Cơm gạo lứt muối vừng phòng ngừa chứng táo bón, một trong những nguyên nhân gây bệnh trĩ.
|
This is featured post 1 title
Replace these every slider sentences with your featured post descriptions.Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these with your own descriptions.
This is featured post 2 title
Replace these every slider sentences with your featured post descriptions.Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these with your own descriptions.
This is featured post 3 title
Replace these every slider sentences with your featured post descriptions.Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these with your own descriptions.
Thứ Tư, 19 tháng 11, 2014
Phòng ngừa bệnh trĩ ở người cao tuổi
Người có tuổi và cao tuổi, nguyên nhân phát sinh bệnh trĩ có những điểm riêng biệt. Cùng với quá trình thoái hóa chung của cơ thể, cấu trúc giải phẫu và chức năng sinh lý của hệ thống tiêu hóa cũng dần dần lão suy. Chức năng co bóp, bài tiết và hấp thu của ruột yếu đi khiến cho tình trạng rối loạn đại tiện rất dễ phát sinh; trương lực cơ trơn đại tràng, cơ thắt hậu môn và dây chằng bị suy giảm, hệ thống tĩnh mạch hậu môn trực tràng bị suy yếu... Điều đó làm cho người già rất dễ mắc bệnh trĩ với những đặc điểm như: (1) Rất ít trĩ đơn thuần mà đa số là trĩ hỗn hợp; (2) Búi trĩ dễ bị sa xuống, xuất huyết và xơ hóa; (3) Trị liệu thường khó khăn vì sức đề kháng kém do mắc nhiều bệnh mạn tính. Bởi vậy, để nâng cao chất lượng cuộc sống, việc phòng ngừa bệnh trĩ ở người già là hết sức cần thiết.
Chế độ ăn uống
Cổ nhân có câu "bệnh tòng khẩu nhập" (bệnh theo miệng mà vào), điều đó rất đúng đối với bệnh trĩ. Bởi vậy, để dự phòng căn bệnh này cần hết sức chú ý điều chỉnh chế độ ăn uống. Trước hết, phải điều độ và đúng giờ giấc, không ăn quá no và cũng không để quá đói. Điều này giúp cho hệ thống tiêu hóa hoạt động được bình thường, đúng quy luật và có hiệu quả, đặc biệt đối với người già.
Thứ hai, thức ăn cần đảm bảo đủ về lượng, tốt về chất nhưng phải dễ tiêu và có chất xơ, chú ý uống đủ nước và ăn nhiều rau quả tươi, trọng dụng các thực phẩm có tính nhu nhuận nhưng ôn ấm như vừng, đậu đen, đậu tương, mộc nhĩ... Mỗi tuần nên ăn một vài bữa cơm gạo lức muối vừng. Điều này giúp cho người già phòng chống hữu hiệu chứng táo bón, một trong những nguyên nhân gây bệnh trĩ.
Cuối cùng, phải hết sức giữ gìn vệ sinh ăn uống, đặc biệt là vào mùa hè để phòng tránh các bệnh lý dễ tạo điều kiện phát sinh bệnh trĩ như kiết lỵ, viêm ruột do nấm hoặc do vi khuẩn, rối loạn tiêu hóa... Không nên ăn quá nhiều thức ăn cay nóng như ớt, hạt tiêu, rượu mạnh... dễ gây táo bón hoặc các thức ăn tính quá lạnh như cua, ốc, thịt trâu, dưa hấu... dễ gây đi lỏng.
Chế độ sinh hoạt
Hết sức tránh đứng lâu, ngồi lâu, không nên ngồi xổm vì có thể ảnh hưởng đến sự tuần hoàn máu ở khoang xương chậu làm cho ứ máu tại các tĩnh mạch trĩ. Nên dùng hố xí bệt, tăng cường hoạt động thể lực, đặc biệt là vận động cơ bắp. Tùy theo sở thích của mỗi người mà lựa chọn một hay hai môn thể thao yêu thích, kiên trì tập luyện trong một thời gian dài. Bơi lội là một trong những môn thể thao rất hữu ích cho việc phòng ngừa bệnh trĩ, ngoài ra, chạy chậm và đi bộ đều có tác dụng phòng ngừa ở các mức độ khác nhau. Nên tập thói quen đi đại tiện đúng giờ, tốt nhất mỗi ngày nên đi một lần. Hạn chế sinh hoạt tình dục khi có các biểu hiện của bệnh trĩ. Hết sức chú ý vệ sinh tầng sinh môn, nhất là sau khi đại tiện. Mỗi ngày nên ngâm nước ấm vùng hậu môn chừng 15 - 20 phút. Không hút thuốc lá và uống rượu.
Biện pháp dùng thuốc
Trước hết, nên trọng dụng các món ăn bài thuốc có công dụng phòng ngừa bệnh trĩ như: (1) Dùng nước sôi pha 60ml mật ong với 30ml dầu vừng uống thường xuyên vào buổi sáng; (2) Dùng 1.000g củ cải trắng rửa sạch, giã nát, vắt lấy nước cốt hòa thêm một chút mật ong, uống khi đói bụng; (3) Lấy 10 củ mã thầy bóc vỏ rửa sạch, thái vụn rồi đem nấu với 200g rau muống, dùng làm canh ăn; (4) Dùng 500g khoai lang rửa sạch, thái vụn rồi cho vào nồi ninh nhừ, cho thêm đường trắng, chia ăn vài lần trong ngày; (5) Mỗi ngày dùng 2 quả chuối tiêu bóc bỏ vỏ, cho thêm đường rồi đem hầm cách thủy, ăn trong ngày; (6) Tang thầm (quả dâu chín) 30g đem nấu với 100g gạo thành cháo, chia ăn vài lần trong ngày; (7) Ngân nhĩ (mộc nhĩ trắng) 50g, mã thầy 100g, đường trắng vừa đủ, tất cả đem nấu nhừ, chia ăn vài lần trong ngày; (8) Hoa hòe 12g, cúc hoa 12g, hai thứ đem hãm với nước sôi trong bình kín, sau 15 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày...
Có thể uống từng đợt viên hoàn Bổ trung ích khí thang do các cơ sở dược phẩm trong nước sản xuất, mỗi ngày uống từ 15 - 20g, chia 2 lần sáng và chiều. Cũng có thể sử dụng dưới dạng trà thuốc, công thức: đẳng sâm 12g, hoàng kỳ 12g, đương quy 12g, bạch truật 12g, thăng ma 8g, sài hồ 8g, trần bì 8g, cam thảo 6g, tất cả đem hãm với nước sôi trong bình kín, sau 20 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày. Người bị tăng huyết áp thì không nên dùng bài thuốc này.
ThS. Hoàng Khánh Toàn
Sốt ở người cao tuổi
Do quá trình lão hóa cơ thể người cao tuổi thường hay mắc một số bệnh mạn tính nên khi bị sốt nếu không biết xử trí ngay để nhiệt độ tăng quá cao, người cao tuổi có thể bị những tai biến do sự thay đổi về thân nhiệt ảnh hưởng đến các bệnh này. Sử dụng các phương pháp hạ nhiệt tại nhà sớm và đúng cách sẽ giúp người cao tuổi tránh được các tai biến nguy hiểm.
Nhiều biến chứng do sốt
Khi người cao tuổi bị sốt cao thường xuất hiện các tai biến như: Rối loạn ý thức như: Lơ mơ, mê sảng, tiểu không tự chủ hay làm nặng thêm các bệnh tim mạch, huyết áp, đái tháo đường... và thời gian điều trị sẽ kéo dài hơn
Ở mức độ nhẹ, sốt có thể gây nhức đầu, chóng mặt, tâm trí suy kém, nếu nặng thì sẽ bị rối loạn ý thức, mê sảng, co giật, tiểu không tự chủ...
Trên hệ tiêu hóa, sốt sẽ làm cho ăn kém hơn, chán ăn, nôn ói, đau bụng, lưỡi đắng và đóng rêu trắng... Người cao tuổi bị sốt cũng có tình trạng nước tiểu ít, nóng, nước tiểu đậm màu, có khi dẫn đến tình trạng tiểu khó, tình trạng thở nhanh, ho, khó thở... Ở hệ tim mạch, sốt làm tim đập nhanh, mạnh hơn có thể là huyết áp tăng cao hơn, tình trạng thiếu máu cục bộ cơ tim có thể nặng hơn, có thể có rối loạn nhịp tim... biến chứng tim mạch rất hay xảy ra làm người cao tuổi bị sốt cao đột ngột
Khám bệnh cho người cao tuổi tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Kạn. Ảnh: Hồng Chuyên
|
Kịp thời lau mát để hạ nhiệt
Khi người cao tuổi xuất hiện những triệu chứng như: Môi khô, khát nước, thở nhanh, đổ mồ hôi cần cặp nhiệt kế ngay, nếu có sốt trên 38 độ C cần chuẩn bị ngay phương tiện để hạ sốt tại nhà. Sốt nhẹ là khi nhiệt độ từ 37,6 độ C đến 37,9 độ C; sốt vừa khi nhiệt độ từ 38 độ C đến 38,9 độ C; sốt cao khi nhiệt độ từ 39 độ C trở lên.
Nếu người cao tuổi bị sốt nhẹ phải hạ nhiệt ngay. Lau mát là phương cách hạ sốt hữu hiệu, dễ thực hiện và ít tốn kém đồng thời mang lại hiệu quả rất tốt. Cách làm như sau: Dùng khăn tay nhúng vào chậu nước lạnh, vắt ráo nước đắp lên những vùng trán, hai bên hố nách..., thỉnh thoảng cho bệnh nhân nằm nghiêng để lau vùng lưng.
Hạn chế đắp khăn lên vùng ngực hoặc sau lưng vì khi đã hạ được sốt thì người bệnh sẽ dễ bị ho. Thường xuyên trở khăn, khi bệnh nhân có cảm giác dễ chịu hơn, trong người bớt bứt rứt thì nên kiểm tra lại nhiệt độ và mỗi lần kiểm tra nên lau khô nhẹ hố nách. Nên để khoảng 10 - 15 phút mới cặp lại nhiệt độ để tránh nhầm lẫn tưởng là sốt đã hạ do khăn lạnh làm giảm nhiệt độ da tại chỗ nhưng nhiệt độ cơ thể vẫn còn cao.
Không nên đắp chăn, không được mặc nhiều áo hoặc mặc áo ấm vì càng làm cho nhiệt độ trong người tăng cao. Việc hạ sốt và dùng thuốc hạ nhiệt chỉ mang tính chất tạm thời. Sau khi nhiệt độ đã hạ nên đưa bệnh nhân đến bác sĩ để được khám và được làm một số xét nghiệm cần thiết để tìm ra nguyên nhân của sốt và được điều trị tốt hơn.
Khi người cao tuổi bị sốt, có thể sử dụng paracetamol 0,5g dạng viên uống hoặc dạng viên sủi hay dạng viên đặt hậu môn để hạ sốt. Khi dùng loại viên sủi, phải hòa tan viên thuốc trong cốc nước sôi để nguội và phải đợi cho thuốc tan hết mới uống.
Do các viên sủi bọt đều có chứa sẵn một hàm lượng muối natri bicarbonate nên người cao tuổi có một số bệnh mạn tính như tăng huyết áp, thận... khi dùng phải có chỉ định của bác sĩ. Liều paracetamol trung bình dùng cho người lớn là 0,5g một lần, từ 2 - 4 lần/ngày.
Paracetamol là thuốc phổ biến, dễ sử dụng nhưng nếu dùng quá liều và dùng lâu dài, thuốc vẫn có nhiều tác dụng phụ và biến chứng khá nguy hiểm, nhất là ở người cao tuổi. Chính vì vậy, khi người cao tuổi bị sốt cần hạ nhiệt bằng thuốc, phải sử dụng theo đúng chỉ định của bác sĩ.
BS. Đinh Văn Minh
Bổ sung vitamin và khoáng chất ở người cao tuổi
Dù với một lượng nhỏ nhưng vitamin (VTM) và khoáng chất đóng vai trò rất quan trọng đối với sự sống của con người, bởi nó là những chất xúc tác không thể thiếu trong quá trình chuyển hóa chất. Tuy nhiên, cơ thể không tự tạo ra VTM mà phải ăn vào từ thức ăn. Hơn nữa, các VTM không thể thay thế lẫn nhau. Hầu như tất cả chúng ta đều đang bị thiếu hụt 1 hay nhiều loại VTM. Đặc biệt, người cao tuổi (NCT) là đối tượng dễ thiếu VTM và khoáng chất hơn cả.
Vai trò của VTM và khoáng chất trong cơ thể
Phần lớn các VTM hoạt động như một phức hợp hoạt hóa men, tham gia vào quá trình biến đổi dự trữ năng lượng trong cơ thể. Một số khác ảnh hưởng tới quá trình oxy hóa, nhiều loại có tác dụng cấu tạo nên hormon, tham gia vào quá trình tăng trưởng và khoáng hóa xương, hoạt động nhân lên của tế bào, tham gia vào quá trình miễn dịch của cơ thể, tổng hợp các chất trung gian của hệ thần kinh, đào thải, trung hòa các chất độc, làm chậm quá trình lão hóa của cơ thể. Ví dụ, VTM tham gia vào hoạt động thị giác, giữ gìn chức phận của tế bào biểu mô trụ. Vitamin C có tác dụng làm tăng sức đề kháng của cơ thể, làm bền vững thành mạch. Sắt có mặt trong mọi tế bào và rất cần thiết trong việc duy trì sự khỏe mạnh của hệ miễn dịch, các cơ và điều chỉnh sự phát triển của các tế bào. Hầu hết chất sắt được dự trữ trong hemoglobin và myoglobin-2 tế bào protein máu đỏ có nhiệm vụ vận chuyển ôxy đến các mô và cơ trong cơ thể.
Vì sao NCT dễ bị thiếu VTM và khoáng chất?
Hầu như tất cả chúng ta đều bị thiếu hụt 1 hay nhiều loại VTM và khoáng chất, đặc biệt NCT dễ thiếu nhiều loại VTM. Thiếu VTM có thể do những nguyên nhân sau: do thiếu ăn, chất lượng lương thực thực phẩm không đảm bảo, quá trình bảo quản, chế biến không đúng. Do chất đất và nguồn nước từng khu vực; chế độ ăn kiêng, nghiện rượu, những người nghiện rượu thường bị thiếu B1 trầm trọng; rối loạn hấp thu, thường thấy ở người mắc bệnh đường tiêu hóa, NCT, do nhu cầu cơ thể tăng nhưng cung cấp không đủ...
Nước ép trái cây bổ sung vitamin và khoáng chất.
|
Một số bệnh do thiếu VTM và khoáng chất
Mặc dù trong cơ thể, VTM và khoáng chất chỉ chiếm một tỷ lệ rất thấp, nhưng nếu thiếu sẽ gây ra những rối loạn, phát sinh bệnh tật. Ví dụ, thiếu VTM A gây quáng gà, thiếu VTM C sẽ giảm sức đề kháng, gây chứng chảy máu dưới da, thiếu VTM B1 gây phù, thiếu VTM B12 gây thiếu máu, viêm dây thần kinh; thiếu canxi gây co giật tay chân hay thiếu kali gây loạn nhịp tim; thiếu sắt gây thiếu máu. Các biểu hiện của thiếu sắt như: cơ thể yếu và mệt mỏi, giảm khả năng tập trung, rụng tóc, đau đầu, móng yếu, dễ gãy...
Làm gì để phòng thiếu VTM và khoáng chất ở NCT?
Các VTM và khoáng chất được cung cấp cho cơ thể qua thức ăn, nước uống hằng ngày. Nếu cơ thể khỏe mạnh, hấp thu tốt và bữa ăn phong phú, đa dạng thì không sợ thiếu các chất này. Vì vậy, để phòng ngừa thiếu VTM và khoáng chất, cần ăn uống thức ăn có đủ VTM và khoáng chất cần thiết cho cơ thể như ăn đa dạng các loại rau, củ, quả, thịt, cá, tôm, cua... Cần chế biến thức ăn mềm, dễ tiêu như súp hoặc xay nhuyễn hay ép dưới dạng sinh tố. Tuy nhiên, hầu hết các VTM B và C tan trong nước nên mặc dù có nhiều trong thức ăn nhưng qua quá trình bảo quản và chế biến sẽ mất đi rất nhiều. Cơ thể không dự trữ các VTM này vì chúng tan trong nước nên bị đào thải ra ngoài qua nước tiểu. VTM B12 là một ngoại lệ, được dự trữ tại gan. VTM tan trong dầu được hấp thu và vận chuyển cùng với mỡ. Cơ thể dự trữ các VTM này chủ yếu ở gan và mô mỡ.
Vì vậy, khi cơ thể hấp thu quá nhiều các VTM này sẽ xảy ra hiện tượng ngộ độc. Đối với người già bệnh nặng kéo dài, sức khỏe suy giảm..., nên bổ sung các VTM và khoáng chất dưới dạng thuốc để đáp ứng nhu cầu VTM, chất khoáng của cơ thể. Tuy nhiên, bổ sung loại VTM hay khoáng chất nào, liều lượng cần bổ sung bao nhiêu và uống trong thời gian bao lâu... cần được bác sĩ thăm khám và chỉ định. Nên nhớ mỗi loại VTM này khi bị thiếu không thể thay thế lẫn nhau.
Nhiều nghiên cứu đã được thực hiện ở những người độ tuổi trung bình 48 - 78 tuổi thì sau 4 - 10 tuần bổ sung VTM và khoáng chất có cải thiện rõ rệt về sức khỏe như: giảm được mệt mỏi, tập trung tư tưởng tốt hơn, ăn ngon miệng hơn, dễ ngủ và thời gian ngủ kéo dài hơn...
BS. Phạm Minh Nguyệt
Táo bón - Nỗi lo của người cao tuổi
Táo bón là bệnh rất hay gặp ở người cao tuổi (NCT). Theo thống kê, có khoảng 1/3 số người già bị táo bón và một nửa trong số đó phải đến khám tại các cơ sở y tế vì táo bón. Táo bón tuy không nguy hiểm nhưng gây nhiều phiền muộn và ảnh hưởng khá nhiều đến sức khỏe của người cao tuổi.
Nhiều nghiên cứu cho thấy: Nước có nhiều vai trò quan trọng trong cơ thể, tham gia cấu tạo các cơ quan, trong đó não chứa 85% nước, máu 92%, dịch dạ dày 95%, cơ bắp 75%, xương 22%, răng 10%... Nước vận chuyển chất dinh dưỡng và oxy nuôi dưỡng mọi cơ quan; là dung môi hòa tan các chất trong cơ thể; duy trì nhiệt độ trung bình ổn định của cơ thể; giúp hấp thu và chuyển hóa thức ăn thành năng lượng để cung cấp cho mọi hoạt động sống của cơ thể; giúp thải trừ các chất cặn bã qua hệ tiết niệu, tiêu hóa, hô hấp, da; bảo vệ các cơ quan tránh bị tổn thương do chấn thương; cấu tạo chất nhờn bảo vệ các khớp xương, tránh viêm sưng, đau nhức khi vận động; làm ẩm không khí giúp hô hấp nhịp nhàng; chống sự hình thành các cục máu đông ở động mạch của tim, não, giảm nguy cơ tai biến mạch máu não và nhồi máu cơ tim; tham gia sản xuất các chất nội tiết tố, chất dẫn truyền thần kinh...
|
Nếu quá 3 ngày chưa đi ngoài hoặc đi ngoài dưới 3 lần trong một tuần, đau quặn bụng từng cơn, phân rắn, mỗi khi đi ngoài phải rặn mạnh đó được gọi là táo bón. Có nhiều nguyên nhân gây nên táo bón, đứng hàng đầu là do tuổi tác. Tuổi càng cao thì chức năng sinh lý cũng bị suy giảm, sự co bóp của cơ trơn đường tiêu hóa yếu đi, các dịch bài tiết của đường ruột cũng giảm đáng kể (dịch vị, dịch mật, dịch ruột) hoặc mắc bệnh nứt kẽ hậu môn gây khó khăn khi đi đại tiện (đau, rát nên không dám rặn) càng làm cho táo bón tăng lên.
Mặt khác, NCT thường có xu hướng ăn ít chất xơ hơn do mất răng hoặc đau răng nên nhai kém, nuốt và tiêu hóa kém nên dễ bị táo bón; do kiêng khem quá mức (ăn nhạt, ít muối), ăn ít hoặc chán không muốn ăn nên chất cặn bã ít, phân ít không tạo được phản xạ co bóp của đại tràng gây nên táo bón. Một số người thường xuyên ăn những loại thức ăn có nhiều chất béo như bơ, sữa, đường tinh chế, thức ăn ít chất xơ, ăn nhiều chất cay, nóng (ớt, hành, hạt tiêu...) và uống nhiều rượu, bia cũng dễ bị táo bón.
Mặt khác, lượng nước đưa vào cơ thể không đủ (bình thường khoảng 1,5 - 2 lít) do NCT thường lười uống nước (sợ đi tiểu nhiều lần) hoặc không có điều kiện ăn rau, quả cũng làm giảm lượng nước đưa vào cơ thể. Ngoài ra, NCT thường mắc một số bệnh mạn tính như thoái hóa khớp, viêm khớp, loãng xương, các bệnh tim mạch, huyết áp, tiểu đường, tâm phế mạn, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) ảnh hưởng đến tiêu hóa hoặc đang dùng một số thuốc như thuốc chống trầm cảm, thuốc bao bọc niêm mạc dạ dày (gastropulgit) hoặc quá lạm dụng thuốc nhuận tràng như forlax, duphalac cũng gây táo bón.
Táo bón cũng có thể do mắc một bệnh khác, điển hình là bệnh trĩ, đặc biệt là trĩ nội. Người bệnh thường có xu hướng nhịn đi đại tiện vì sợ đau và chảy máu làm giảm phản xạ đại tiện, gây tích trữ phân dẫn đến táo bón. Một nguyên nhân quan trong khác gây táo bón ở NCT là ít vận động (do sức khỏe yếu, do mắc các bệnh thoái hóa khớp, do tuổi cao lú lẫn…).
Xoa bụng vòng xung quanh rốn kích thích tiêu hóa, tăng nhu động ruột phòng chống táo bón.
|
Táo bón ở NCT có phòng được không?
Táo bón có thể phòng ngừa được nhưng đỏi hỏi người bệnh phải kiên trì thực hiện. Nên ăn nhiều các loại rau có tính nhuận tràng như mồng tơi, rau khoai lang, rau dền, rau đay... và các loại quả như cam, quýt, bưởi, xoài, đu đủ chín, dưa chuột, mướp đắng, mướp... Chuối chín hoặc củ khoai lang luộc (hoặc nướng) phòng táo bón rất tốt vì có tác dụng nhuận tràng. Hàng tuần nên ăn từ 2 - 3 bữa cá thay cho thịt. Không nên uống rượu, bia (trừ rượu vang đỏ nhưng cũng không lạm dụng); không ăn chất cay, nóng (ớt, hành, hồ tiêu, mù tạt).
Không nên ngồi lâu mỗi lần đi ngoài và cũng không nên ngồi lâu một chỗ. Tạo thói quen đi ngoài theo một giờ nhất định trong ngày. Năng vận động thân thể để gia tăng nhu động ruột và gia tăng trương lực cơ sẽ giúp cải thiện hoạt động ở ruột già. Cách vận động đơn giản nhất là đi bộ khoảng 30 phút mỗi ngày, từ chậm đến nhanh dần tùy theo điều kiện sức khỏe của mỗi người. Ngoài ra, người già nên thường xoa bóp. Có thể áp 2 bàn tay vào nhau xoa chậm xoay tròn chung quanh vùng rốn để vừa có tác dụng kích thích tiêu hóa ở dạ dày vừa gia tăng nhu động ruột ở vùng ruột già. Mỗi ngày nên thực hành 2 lần, mỗi lần xoa từ 5 - 10 phút.
ThS.BS. Việt Bắc
Suy giảm chức năng thần kinh ở người cao tuổi
Quy luật của tuổi già là sự lão hóa. Bản thân sự lão hóa là một quá trình sinh lý và sinh học. Tuy nhiên, chính sự lão hóa là cơ sở tạo điều kiện cho bệnh tật phát sinh và phát triển. Đặc tính chung là sự lão hóa xuất hiện và diễn biến “không đồng thì, không đồng tốc và không đồng bộ”, do đó sẽ ảnh hưởng đến từng cơ quan, bộ máy, hệ thống trong cơ thể, đặc biệt là hệ thần kinh.
Tế bào não bình thường bị tế bào Alzheimer “xâm chiếm” khi về già.
|
Biến đổi của hệ thần kinh do lão hóa
Trong khoảng đời người từ 20 - 90 tuổi, trọng lượng của não giảm 10 - 20% làm cho não bị teo dần, có thể thấy rõ nhất tại các vùng trán, đỉnh và thái dương. Khối lượng não bị giảm đi phản ánh số lượng tế bào thần kinh ngày càng ít và teo đi, có thể giảm tới 50% ở một số khu vực của não, đặc biệt ở vỏ não.
Theo mức độ già đi của cơ thể, các quá trình teo và loạn dưỡng trong các tế bào thần kinh ngày càng gia tăng. Sự thoái hóa của tế bào thần kinh có hiện tượng thoái biến các khớp thần kinh, nơi giữ vai trò quan trọng đối với các chất truyền dẫn thần kinh. Phần lớn tiền thân của các chất truyền dẫn thần kinh là các acid amin có nguồn gốc từ thức ăn cung cấp cho cơ thể.
Biểu hiện suy giảm chức năng thần kinh do lão hóa
Về giác quan:
Khứu giác: Ở người trên 80 tuổi, 75% thấy giảm khứu giác sinh lý không phải do tổn thương các nhánh thần kinh chi phối vùng niêm mạc mũi. Riêng trường hợp bệnh nhân mắc bệnh Alzheimer hoặc bệnh Parkinson có thể thoái hóa tiến triển ở các tế bào hành khứu.
Thị giác thường bị giảm vì đục thủy tinh thể, thoái hóa điểm vàng hoặc bệnh glocom. Thông thường, thị lực NCT bị giảm với tỷ lệ 10 - 12%. 6% người dưới 65 tuổi bị thoái hóa điểm vàng và trên 80 tuổi tỷ lệ đó là 46%. Mặc khác, thị lực có khi bị giảm vì động tác liếc dọc và liếc ngang bị hạn chế.
Vị giác nói chung và khả năng phân biệt các vị cũng thường giảm đi khi tuổi đời tăng cao. Tuy nhiên, có khi rối loạn vị giác là biến chứng của suy thận, hoặc do thiếu vitamin (acid folic, vitamin B12) hoặc có thể do tác dụng thứ phát của một vài loại thuốc (ví dụ nifedipin...).
Thính lực: sau 65 tuổi, cứ 4 người có 1 người nghe kém.
Về hệ thực vật: 5 - 34% trường hợp có thể bị rối loạn tiểu tiện với các hình thái như tiểu khó, tiểu dắt, tiểu không hết bãi, tiểu tiện không tự chủ...
Về chu trình thức - ngủ: Nhiều NCT thường phàn nàn ít ngủ, thường hay tỉnh dậy khá sớm và giấc ngủ ban đêm hay bị gián đoạn với nhiều lần tỉnh giấc ngắn, có hoặc không kèm theo cảm giác muốn đi tiểu. Có rất nhiều nguyên nhân gây mất ngủ như: yếu tố môi trường, yếu tố tâm lý, bệnh tâm thần, nguyên nhân cơ thể (bệnh nội khoa), bệnh gây đau đớn, bệnh nguy kịch, nguyên nhân dược lý, rối loạn chất lượng giấc ngủ.
Về chức năng trí tuệ: Ở NCT, phần lớn hiếm gặp người có trí nhớ vượt quá trí nhớ của người trẻ tuổi hơn nhưng cũng có tới 5% trong quần thể người già có trí nhớ đặc biệt. Các chức năng trí tuệ có thể bị nhiễu loạn, nhất là trí nhớ, với nhiều biểu hiện khác nhau. Một số trường hợp rối loạn trí nhớ được người thân phát hiện nhưng rồi dễ bị bỏ qua với quan niệm không đúng gán cho tuổi già bình thường, không phải bệnh. Điều đáng chú ý là trí nhớ nói riêng, trí tuệ nói chung có liên quan mật thiết đến trình độ học vấn và điều kiện hoạt động gắn với tư duy của từng cá nhân.
Cách chăm sóc hệ thần kinh NCT
Khoảng 3/4 số NCT có ít nhất một bệnh mạn tính và ở người 80 tuổi có thể mắc bệnh đồng diễn. Do đó chăm sóc hệ thần kinh cho NCT không thể chỉ chú trọng riêng tới não mà còn phải quan tâm tới toàn bộ cơ thể. Mặc khác, không thể áp dụng một công thức nhất định nào cho mọi đối tượng NCT. Dưới đây là một số nguyên tắc chung:
Cần giải quyết các yếu tố nguy cơ đối với bệnh lý mạch máu não và điều trị các bệnh nội khoa đã được chẩn đoán.
Chú ý tới chế độ dinh dưỡng, sinh hoạt, lao động, học tập, giải trí một cách đúng mức; kết hợp tập luyện với nghỉ ngơi, thư giãn; ngủ đều đặn 8 giờ mỗi đêm.
Sử dụng thuốc an toàn hợp lý.
Kết hợp y học cổ truyền với y học hiện đại.
Bảo đảm một môi trường gia đình ấm cúng, hòa hợp, yên vui để tạo điều kiện tâm lý thuận lợi nhất cho NCT.
GS.TS. Lê Đức Hinh (Chủ tịch Hội Thần kinh học)
Giúp người cao tuổi có giấc ngủ ngon
Khó ngủ, mất ngủ là rối loạn thường gặp ở người cao tuổi, do nhiều nguyên nhân, gây ảnh hưởng lớn đến sức khỏe. Bên cạnh việc tìm nguyên nhân và điều trị đúng cách, việc thực hiện chế độ ăn uống, sinh hoạt, tập luyện phù hợp là biện pháp tốt nhất để người cao tuổi có giấc ngủ ngon.
Có nhiều nguyên nhân gây mất ngủ ở người cao tuổi, ngoài nguyên nhân do bệnh lý (sa sút trí tuệ, tim mạch, viêm nhiễm đường hô hấp, đau xương khớp, trầm cảm,…) thì người cao tuổi mất ngủ còn do: Giảm hoạt động thể lực, ít tiếp xúc với ánh sáng, thay đổi nhịp sinh học, giảm ngưỡng bị đánh thức (dễ bị thức giấc hơn), giảm khả năng hồi phục các chức năng khi cơ thể bị lão hóa; Thường nghĩ về quá khứ, hay lo lắng, dễ xúc động,…
Cần làm gì để có giấc ngủ tốt?
Trong trường hợp mất ngủ do bệnh lý, người bệnh cần đi khám tại các cơ sở y tế chuyên khoa để có hướng dẫn dùng thuốc cụ thể. Ngoài ra, cách điều trị tốt nhất là áp dụng các biện pháp không dùng thuốc, nhất là với trường hợp mất ngủ do rối loạn tâm lý kéo dài. Cụ thể:
Về chế độ ăn uống: Thức ăn và nước uống có những loại làm cho dễ ngủ, ngủ ngon hơn nhưng cũng có loại gây trằn trọc, khó ngủ. Để có giấc ngủ tốt, trước tiên phải bữa ăn phải đảm bảo đủ 3 chất chủ yếu là đạm (thịt, cá, trứng, sữa,...); bột (gạo, bánh mỳ,…); dầu mỡ (mỡ động vật như mỡ lợn và các loại dầu chiết xuất từ thực vật như lạc, đậu nành, hạt cải, hướng dương,…).
Người cao tuổi nên ăn những thức ăn dễ tiêu và có nhiều vitamin B1, thức ăn giàu chất khoáng như rau muống, mồng tơi; cam, quýt, đu đủ chín; đậu phụ, sữa đậu nành,… Đặc biệt không nên uống rượu, bia và các chất kích thích gây tổn hại gan và gây mất ngủ như cà phê, các loại nước có ga như pép si, coca-cola,… Không hút thuốc lá và tránh xa khói thuốc lá.
Luyện tập thể thao: Hình thức tập luyện tương đối phù hợp với sức khỏe người cao tuổi là đi bộ, tập dưỡng sinh một cách đều đặn hay thực hiện các bài luyện tập nhẹ nhàng trước khi đi ngủ để dễ đi vào giấc ngủ và giấc ngủ sẽ sâu hơn. Nơi tập cần đảm bảo vệ sinh, không khí trong lành, thoáng mát, tốt nhất có cả nơi ngồi nghỉ tránh gió mưa đột ngột.
Thoải mái, thư giãn trước khi ngủ: Cần tạo môi trường yên tĩnh, thư giãn trước khi đi ngủ, bao gồm các điều kiện tối ưu về ánh sáng, tiếng ồn, nhiệt độ. Tạo thói quen về giờ giấc sinh hoạt, đi ngủ. Mặc quần áo thoải mái, rộng rãi. Khi đi ngủ không nên đọc sách, xem ti vi, nhìn đồng hồ, tránh căng thẳng, lo lắng, xúc động,…
Bác sĩ Thanh Bình
Chủ Nhật, 17 tháng 8, 2014
Ðề phòng nhiễm khuẩn đường tiết niệu do u xơ
Nếu như phụ nữ từ tuổi trung niên trở lên hay gặp các viêm nhiễm về phụ khoa thì nam giới trong độ tuổi này lại có “nỗi khổ” riêng, đó là các vấn đề do u xơ tuyến tiền liệt (UXTTL) gây ra, trong đó có nhiễm khuẩn tiết niệu.
Thế nào là UXTTL?
UXTTL (hay còn gọi là u phì đại lành tính tuyến tiền liệt) là từ dùng để chỉ một quá trình phì đại của tuyến tiền liệt (TTL) do quá sản của các tế bào tuyến, tế bào đệm. Quá trình phì đại này có tính chất lành tính, phát triển nhanh từ tuổi 40 trở đi. Người ta ước tính có khoảng 50% đàn ông tuổi 60 có TTL quá phát và tỷ lệ này là 90% ở tuổi 70 hoặc 80. Vì vậy có thể nói, UXTTL là bệnh của người già.
Nguyên nhân nào gây ra hiện tượng quá phát, phì đại của TTL cho tới nay vẫn chưa được biết rõ. Có nhiều giả thiết được đưa ra như vai trò của tinh hoàn trong việc tiết ra hormon testosterol, testosterol tăng cao trong máu có tính chất ức chế sinh một hormon khác là estrogen. Về già, lượng testosterol suy giảm dẫn đến tăng estrogen và chất này có khả năng kích thích các tế bào TTL tăng sinh...
Tại sao UXTTL hay gây nhiễm khuẩn tiết niệu?
Bình thường, nước tiểu từ bàng quang được đào thải dễ dàng ra ngoài qua niệu đạo. Tuyến tiền liệt phì đại sẽ gây chèn ép ngay cổ bàng quang, chỗ đi ra của nước tiểu khiến cho dòng nước tiểu bị cản trở, bệnh nhân đi tiểu không thành dòng (nước tiểu chỉ rỉ qua miệng sáo) và gây ra ứ nước tiểu trong bàng quang. Mặt khác, khối u TTL khi phát triển to ra, gây chèn ép, kích thích liên tục vào thành bàng quang khiến cho bệnh nhân luôn có cảm giác buồn tiểu, bàng quang bị kích thích nhiều quá sẽ dẫn đến hiện tượng “liệt” điều này càng làm cho lượng nước tiểu ứ đọng trong bàng quang. Nước tiểu ứ đọng sẽ là môi trường thuận lợi cho nhiễm khuẩn. Khi nhiễm khuẩn xảy ra lại gây phù nề, bít tắc thêm đường tiết niệu và hình thành một vòng xoắn bệnh lý.
Biểu hiện của nhiễm khuẩn tiết niệu do UXTTL
Ở bệnh nhân bị UXTTL thường có các triệu chứng như đái khó: bệnh nhân phải rặn nhiều, nước tiểu đi không thành tia, chỉ đi ít một, nhỏ giọt hoặc chỉ rỉ ra ngay miệng sáo. Nhiều trường hợp tắc hẳn khiến bệnh nhân không thể đi tiểu được. Lúc nào bệnh nhân cũng có cảm giác buồn tiểu, phải đi rất nhiều lần, nhất là về đêm.
Khi có nhiễm khuẩn xảy ra, bệnh nhân sẽ thấy đi tiểu khó hơn, đi tiểu buốt, đau miệng sáo hoặc đau lan lên hai bên thắt lưng nếu có nhiễm khuẩn lên đài bể thận. Nước tiểu đục bẩn, có thể có mủ hoặc máu. Sốt cao rét run là triệu chứng báo hiệu của nhiễm khuẩn tiết niệu. Làm xét nghiệm có thể thấy nhiều hồng cầu, bạch cầu trong nước tiểu và bạch cầu máu tăng cao. Cấy máu hoặc nước tiểu tìm chủng vi khuẩn hay gặp như các vi khuẩn gram âm...
Nhiễm khuẩn có thể gây nhiều biến chứng như làm nặng thêm tình trạng tắc nghẽn khiến bệnh nhân khó đi tiểu hơn, gây tiểu buốt, gây viêm nhiễm lan rộng tới niệu quản, đài bể thận và đôi khi gây nhiễm khuẩn huyết, sốc nhiễm khuẩn hết sức nguy hiểm.
Điều trị nhiễm khuẩn do UXTTL bao gồm cho các loại kháng sinh như ciprofloxacin, amikacin, amoxicillin, azithromycine... kèm theo các thuốc sát khuẩn đường tiết niệu (xanh methylene...). Nhưng vấn đề cơ bản là phải giải quyết vấn đề tắc nghẽn, làm thông thoáng đường tiểu như cho các thuốc chống viêm, thuốc điều trị UXTTL và khi cần, phải phẫu thuật (nội soi hoặc mổ mở) để lấy bỏ khối u gây chèn ép.
Phòng bệnh là cách tốt nhất
Vì nhiễm khuẩn đường tiết niệu là do khối u phì đại gây tắc nghẽn nên việc dự phòng tốt nhất là... điều trị tốt khối u bằng thuốc hoặc phẫu thuật. Bên cạnh đó, một số biện pháp dự phòng nhiễm khuẩn cũng có thể được áp dụng như tập đi tiểu theo giờ, đi tiểu chậm để lượng nước tiểu ra hết, vật lý trị liêu xoa bóp vùng bàng quang, giữ gìn vệ sinh sạch sẽ... để tránh nhiễm khuẩn ngược dòng. Bệnh nhân bị UXTTL đã có dấu hiệu tiểu khó cũng không nên uống nhiều nước, không uống rượu bia, chè, cà phê hoặc các chất lợi tiểu khác để tránh đi tiểu quá nhiều.
TS. BS. Vũ Đức Định


Thứ Tư, tháng 11 19, 2014
doanh nhan