This is featured post 1 title
Replace these every slider sentences with your featured post descriptions.Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these with your own descriptions.
This is featured post 2 title
Replace these every slider sentences with your featured post descriptions.Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these with your own descriptions.
This is featured post 3 title
Replace these every slider sentences with your featured post descriptions.Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these with your own descriptions.
Thứ Tư, 20 tháng 5, 2015
5 câu hỏi về thị lực nhóm người cao tuổi
Một trong những vấn đề nan giải đối với sức khỏe người cao tuổi là thị lực, tuổi càng cao thị lực càng giảm, âu cũng là quy luật. Tuy nhiên để làm chậm quá trình này 5 vấn đề dưới đây vừa được tạp chí người cao tuổi Grandparents của Mỹ cập nhật được xem là bổ ích, mọi người nên tham khảo.
1. Vì sao tuổi càng cao, mắt lại càng khô?
Theo các chuyên gia nhãn khoa ở Honolulu, khi về già mọi tuyến của cơ thể lão hóa theo, không làm việc hiệu quả, ảnh hưởng trực tiếp đến màng nhầy. Riêng nhóm phụ nữ mãn kinh lại bị ảnh hưởng nhiều nhất, màng nhầy trở nên khô hơn do hoóc-môn thay đổi.
- Giải pháp: Nên dùng thuốc nhỏ mắt, nhất là nhóm thuốc không có chứa thimerosol và chất bảo quản. Nên uống đủ nước mỗi ngày, nếu khô mắt mãn tính thì nên tư vấn bác sĩ bởi đây là dấu hiệu dẫn đến viêm và mờ mắt. Tùy thuộc mức độ bệnh lý, bác sĩ có thể kê đơn dùng thuốc phù hợp, như thuốc nhỏ mắt Restasis sẽ có tác dụng giúp mắt tạo ẩm và ra nhiều nước mắt hơn.
2. Ăn uống ảnh hưởng như thế nào đến thị lực?
Theo nữ tiến sĩ Emily Chew, Phó Giám đốc Phân ban Dịch tễ học và Ứng dụng lâm sàng, Viện Mắt Quốc gia Mỹ (NEI), năm 2013, sau khi hoàn thành nghiên cứu bệnh mắt liên quan đến tuổi tác mang tên AREDS2, NEI phát hiện thấy những người có nguy cơ mắc bệnh thoái hóa hoàng điểm vì tuổi tác (AMD) có thể giảm được tới 25% rủi ro nếu dùng liều cao vitamin C, vitamin E, beta carotene và kẽm.
- Giải pháp: nên chú trọng đến thực phẩm giàu lutein và zeaxanthin, có nhiều trong các loại rau lá xanh như: cải xoăn, súp lơ, bắp cải, rau bina, và trứng. Theo Hiệp hội Nhãn khoa Mỹ, lutein và xeaxanthin còn có tác dụng phòng ngừa bệnh đục thủy tinh thể ở nhóm người trung cao niên.
3. Hút thuốc thể ảnh hưởng thế nào đến thị lực?
Cũng theo theo tiến sĩ Emily Chew, qua nhiều nghiên cứu, các nhà khoa học ở NEI phát hiện thấy hút thuốc lá làm tăng gấp đôi nguy cơ phát triển bệnh AMD. Một nghiên cứu do Đại học Duke thực hiện gần đây phát hiện thấy khói thuốc lá và các hóa chất có trong thuốc lá, nhất là hắc ín có thể đẩy nhanh quá trình hình thành cặn và làm dày võng mạc, phát sinh bệnh AMD. Trong thí nghiệm ở loài gậm nhấm, những con chuột được tiếp xúc với khói thuốc lá ở tần suất cao thường sớm mắc bệnh võng mạc, đặc biệt là bệnh thoái hóa hoàng điểm.
Thực phẩm giàu lutein và zeaxanthin giúp cải thiện thị lực, ngừa bệnh mắc bệnh võng mạc
- Giải pháp: nếu trót nghiện thì nên cai thuốc càng sớm càng tốt, còn những người không hút hãy tránh xa người hút thuốc vì hít phải khói thuốc do người hút phả ra, chuyên môn gọi là hút thuốc lá thụ động (passive smoking).
4. Luyện tập cho mắt có tác dụng cải thiện tầm nhìn ?
Glenda Secor, phát ngôn viên của Viện Hàn lâm Nhãn khoa Mỹ cho biết đến nay chưa hề có bằng chứng luyện tập cho mắt thực sự cải thiện được tầm nhìn. Trong nhiều năm, các nhà khoa học đã nghiên cứu và áp dụng thủ thuật điều trị chứng suy tụ, hai mắt tập trung nhìn vào một vật khoảng cách gần, như cầm cây bút chì ở phía trước theo các cự ly khác nhau. Tuy nhiên, theo nghiên cứu do NEI tài trợ thì thủ thuật cải thiện sự tập trung tầm nhìn nói trên không hiệu quả so với liệu pháp vờ (placebo).
- Giải pháp: chấp nhận sự lão hóa theo quy luật và tìm những giải pháp mang tính khả thi hơn.
5. Đeo kính đọc sách làm cho thị lực tồi tệ hơn?
Sự thực của vấn đề này là đeo kính chỉ giúp tập trung ánh sáng, nhìn rõ chứ không thay đổi liệu pháp điều trị tầm nhìn cho con người. Khi đeo kính, mắt con người nhìn rõ hơn nhưng sau khi bỏ kính ra khả năng thị lực của mắt không thay đổi, có nghĩa bệnh không khắc phục được.
- Giải pháp: nếu là lão thị khi đọc, nhìn gần cần dùng kính hội tụ (kính lão). Trước khi dùng kính nên khám chuyên khoa mắt để chọn các thông số kính cho thích hợp và nên dùng kính không màu. Thông thường, dùng kính sau 3-5 năm phải thay số mới, nếu quá 5 năm vẫn đọc được, hoặc dùng kính số thấp hơn kính đang dùng mà thấy rõ hơn, có thể đã bắt đầu bị đục thể thủy tinh, cần phải đi khám chuyên khoa mắt để xác định nguy cơ và can thiệp kịp thời.
Khắc Hùng (Theo GPC )
Làm thế nào để đối phó với chứng mãn kinh?
Vậy mãn kinh là gì, làm thế nào để đối phó với nó, giúp người phụ nữ vượt qua một trong những giai đoạn khó khăn của cuộc đời....? Mãn kinh là tình trạng hết kinh vĩnh viễn, sau khi buồng trứng của người phụ nữ ngừng tiết ra nội tiết tố estrogen.
Theo thống kê, độ tuổi trung bình mãn kinh là 48-52 tuổi, nhưng cũng có trường hợp mãn kinh sớm hơn hoặc muộn hơn. Nhưng nói chung hầu hết các phụ nữ đều gặp một trong số các triệu chứng khó chịu của tuổi mãn kinh như: kinh nguyệt thất thường, bốc hỏa - đột ngột nóng và đỏ bừng mặt, cổ và ngực, đổ mồ hôi đêm, âm đạo bị khô, gặp các trục trặc về tiết niệu, khó tập trung, trí nhớ kém , tâm trạng thay đổi thất thường, ham muốn tình dục giảm, tóc rụng và thưa, tăng cân, bị đau nửa đầu, đau lưng, khớp và cơ bắp.
Theo dõi những triệu chứng mãn kinh
Hãy ghi lại trong nhật ký những cơn nóng bừng hay bất cứ các triệu chứng nào mà bạn cho là khó chịu. Cố tìm hiểu nguyên nhân, nếu bạn sử dụng cà phê, uống rượu, gặp chuyện gì căng thẳng hay nằm ngủ trong một căn phòng nóng bức đều là những nguyên nhân gây ra cơn nóng bừng như vậy. Loại bỏ các yếu tố bên ngoài, tập thở sâu, chậm sẽ giúp bạn vượt qua những khó khăn này. Nếu vẫn xuất hiện các triệu chứng đó hãy tìm đến bác sĩ để được tư vấn.
Giữ không gian ngủ thoáng mát
Vào ban đêm, những cơn nóng bừng có thể chợt đến làm cho người phụ nữ dễ bị đổ mồ hôi trong thời kỳ mãn kinh. Khi bị đổ mồ hôi đồng nghĩa với việc bạn sẽ bị mất ngủ. Có một số cách để giữ cho bạn vượt qua giai đoạn này như để một túi chườm lạnh nhỏ dưới gối. Khi cảm thấy nóng bừng, hãy lật gối qua mặt kia để áp mặt vào phần gối đã được làm mát. Hoặc sử dụng quạt để quạt mát không khí, tạo cho không gian ngủ thoáng mát về đêm cũng là một giải pháp có ích.
Tăng cường chất lượng giấc ngủ
Làm thế nào để tăng cường chất lượng giấc ngủ cho phụ nữ ở tuổi này. Hãy tập các môn vận động nhẹ như yoga, thiền có thể giúp giấc ngủ nhanh đến. Cần phải biết rằng tất cả các môn thê dục vận động mạnh đều không có lợi cho giấc ngủ, cần được yên tĩnh ít nhất 1 giờ trước khi ngủ. Đừng uống rượu vào buổi tối, nhiều người cho rằng rượu sẽ làm con người dễ ngủ, nhưng nó là một sai lầm. Rượu làm giấc ngủ chập chờn, hay tỉnh giấc, nó gây rối loạn giấc ngủ nhiều hơn là đưa con người vào giấc ngủ. Nếu mất ngủ hãy thử nhấm nháp một ly sữa ấm, hoặc dậy đọc một quyển truyện chẳng hạn, tuyệt đối không sử dụng các thiết bị điện tử.... Nếu vẫn không ngủ được bạn cần nói chuyện với bác sĩ để nhận được sự hỗ trợ.
Sử dụng các biện pháp hỗ trợ trong hoạt động tình dục
Khi phụ nữ thay đổi nội tiết tố điều này đồng nghĩa với việc âm đạo trở nên mỏng và khô hơn, nó làm cho việc quan hệ tình dục trở nên đau rát vì thế phụ nữ bị suy giảm ham muốn tình dục. Hiện nay trên thị trường có nhiều loại thuốc hỗ trợ cho hoạt động tình dục như chất bôi trơn hoặc cũng có thể đến bác sĩ để yêu cầu được kê đơn thuốc hỗ trợ. Việc quan hệ tình dục ở tuổi này làm cho lưu lượng máu đi đến các cơ quan tốt hơn, đặc biệt giúp cho âm đạo kéo dài giai đoạn “về hưu sớm”.
Giảm ham muốn
Đây là vấn đề rất bình thường ở tuổi tiền mãn kinh và mãn kinh. Để khắc phục hãy thay đổi một số thói quen trong quan hệ tình dục, massage hoặc kích thích sự gần gũi với đối tác. Việc suy giảm ham muốn này không chỉ đến từ việc thay đổi hormon mà có thể đến từ nhiều nguyên nhân khác như ngủ kém, gặp các trục trặc ở đường tiết niệu hay thậm chí là những thay đổi tâm trạng như chán nản, căng thẳng ....
Tâm trạng thất thường
Ở những phụ nữ mãn kinh, tâm trạng thường không ổn định, buồn vui thất thường, hay xuất hiện các cơn cáu gắt. Trước thời gian mãn kinh thực sự, phụ nữ trải qua giai đoạn tiền mãn kinh, nó kéo dài từ 2-4 năm, khi đó nồng độ hormon bắt đầu giảm đi, estrogen có lúc lại tăng bất thường, trước khi giảm hẳn ở giai đoạn mãn kinh. Điều này làm tâm tính người phụ nữ trở nên thất thường, thậm chí nhiều người rơi vào trạng thái trầm cảm. Bác sĩ có thể kê cho bạn các thuốc hỗ trợ như liều thấp thuốc tránh thai, thuốc chống trầm cảm ....
Giải quyết chứng đau đầu
Những người hay bị đau đầu bệnh sẽ nặng lên vào thời gian mãn kinh. Cần theo dõi các cơn đau đầu hoặc đau nửa đầu như vậy, nó thường đi kèm với các cơn nóng bừng. Thay đổi chế độ ăn như chia nhỏ bữa ăn, sử dụng rau xanh và hoa quả nhiều hơn, giảm ăn các loại thịt.... Thiếu ngủ cũng dẫn đến chứng đau đầu, nhất là khi mất ngủ vào ban đêm làm cho chứng đau đầu càng trầm trọng vào ban ngày. Rút thời gian ngủ trưa xuống còn khoảng 30 phút để dễ đi vào giấc ngủ ban đêm và ngủ sâu hơn để phòng đau đầu.
Đối phó với chứng rụng tóc
Vào tuổi mãn kinh tóc trở nên mỏng và dễ rụng hơn, điều này là hoàn toàn bình thường. Để khắc phục điều này bạn cần hạn chế sử dụng các loại hóa chất mạnh cho tóc, tránh ánh nắng mặt trời, tránh sử dụng nhiệt quá mạnh khi sấy tóc. Nhiều người vào thời kì mãn kinh xuất hiện tình trạng lông mọc quá mức ở một số khu vực không mong muốn như tay, mặt. Khi lượng estrogen giảm trong thời kì mãn kinh, Dihydrotestosterone (DHT) - hóc môn chính để kiểm soát sự phát triển của lông mặt - có thể tăng và dẫn đến sự hình thành các sợi lông thô trên gương mặt, đặc biệt là cằm. Có thể dùng các biện pháp wax hoặc tẩy lông bằng laser để khắc phục.
Làm sao giảm mụn
Người ta thường nghĩ mụn xuất hiện ở tuổi thiếu niên, nhưng thật sai lầm, nó còn đến “làm phiền” bạn ở tuổi mãn kinh nữa. Mụn phổ biến đến mức có nhiều loại mỹ phẩm giúp phụ nữ tuổi này khắc phục. Khi lượng estrogen mất đi, đồng nghĩa với testosterone chiếm ưu thế, cộng thêm làn da tuổi này mất đi chất nhờn, da khô hơn, mụn càng dễ phát tác. Làm thông thoáng lỗ chân lông bằng các sản phẩm làm sạch, dưỡng da thường xuyên hơn, tuy nhiên các sản phầm đó không gây bít lỗ chân lông , cần mua những sản phẩm có nhãn phụ ghi “không làm tắc nghẽn lỗ chân lông", "noncomedogenic", và "không-acnegenic’.
Tập luyện trí não
Mãn kinh thường là giai đoạn người phụ nữ bắt đầu vào thời kỳ sức khỏe suy giảm, nhất là về trí tuệ. Ở tuổi này con người thường khó tập trung, trí nhớ kém. Nguyên nhân thể chất là một phần, và điều này có thể khắc phục bằng việc luyện tập thường xuyên. Tăng cường vận động và sử dụng các ngón tay rất tốt cho trí não, hoặc bạn cũng có thể tự đặt ra những thử thách tăng cường trí nhớ cho mình và cổ gắng vượt qua. Hãy tìm hiểu những điều mới mẻ như sở thích cá nhân hoặc học một ngôn ngữ mới.
Thu Hà
Theo Medicinenet
Khắc phục chứng nghe kém và điếc
Ở người cao tuổi, các bộ phận thuộc phạm vi tai mũi họng cũng lão hóa dần như ở các nội tạng khác trong cơ thể. Sau 60 tuổi trở đi, các cơ quan nội tiết hoạt động giảm, chuyển hoá giảm theo, sức nghe giảm dần. Nghe tiếng nói không rõ, nhất là ở nơi ồn ào. Tuổi càng cao, nghe càng kém. Đặc biệt, ở một số người cao tuổi, sức nghe giảm nhanh.
Con người nghe được nhờ đâu?
Con người nghe được nhờ tai. Tai còn có chức năng quan trọng khác là giữ thăng bằng. Với hai chức năng nghe và thăng bằng, tai có 3 phần:
Tai ngoài: gồm có vành tai để hứng và định hướng sóng âm và ống tai ngoài vận chuyển sóng âm đến vành tai.
Tai giữa: dẫn truyền và tăng cường sóng âm đến tai trong. Tai giữa gồm màng tai, các xương con (xương búa, xương đe, xương bàn đạp) và vòi tai. Bảo vệ tai trong nhờ lớp cơ của các xương con và lớp đệm không khí của tai giữa.
Tai trong: là bộ phận tiếp nhận sóng âm và chuyển các sóng âm thành luồng thần kinh, giúp con người nhận biết âm thanh.
Xốp tai là một quá trình các xương con của tai giữa bị xốp, cứng khớp, làm sức nghe 2 tai giảm dần rồi điếc.
Tại sao lại nghe kém và điếc?
Nghe kém là giai đoạn đầu của điếc. Nghe kém có nhiều nguyên nhân, sau đây là những nguyên nhân chính:
Tổn thương tai ngoài: nút ráy ở ống tai ngoài có thể gây nên nghe kém và điếc. Có trường hợp vật lạ kẹt trong ống tai hoặc chít hẹp ống tai cũng gây nghe kém.
Tổn thương tai giữa: vòi tai (thông từ mũi - họng lên tai giữa) bị tắc, do viêm mũi họng. Viêm tai giữa có tiết dịch, có mủ, xơ sẹo màng tai làm cho nghe kém và điếc.
Xốp tai (hoặc xơ tai) là một quá trình các xương con của tai giữa bị xốp, cứng khớp, làm sức nghe hai tai giảm dần rồi điếc. Chứng xốp tai gây điếc hay gặp ở người cao tuổi, tiến triển trong cả hai tai, không thể chữa bằng phẫu thuật.
Tổn thương tai trong: do viêm tai giữa, viêm xương chũm biến chứng vào tai trong, hoặc do nhiễm độc một số loại thuốc, hoặc do các nhóm mỡ trong máu tăng lên. Nghiện rượu làm nhiễm độc thần kinh nghe, có thể gây ra điếc.
Tác động của tiếng ồn trong một thời gian dài gây nên những tổn thương không hồi phục được ở cơ quan thính giác của tai trong. Với người cao tuổi, nếu trong quá khứ tiếp xúc với tiếng ồn càng lâu thì tỷ lệ điếc càng cao và càng nặng hơn.
Phát hiện sớm nghe kém cách gì?
Không đòi hỏi máy móc, kỹ thuật phức tạp, ta có thể đo sức nghe và phát hiện ban đầu nghe kém hoặc điếc.
Đo sức nghe tiếng nói là cách đo đơn giản, dễ làm. Trong một căn buồng hoặc một hành lang yên tĩnh dài độ 6 mét, người đo dùng tiếng nói thì thào nói một số câu, từ đơn giản (như một con số gồm 2 - 3 số hoặc một tên địa danh, thành phố) hướng về phía tai được đo cách độ 5m. Người được đo đứng hoặc ngồi, hướng tai đo của mình về phía tiếng nói người đo, dùng ngón tay bịt chặt tai bên kia và nhắc những từ, những con số nghe được. Đo lần lượt hết tai này sang tai kia. Tai bình thường nghe được tiếng nói thì thào ở khoảng cách 5m. Người nào không nghe được tiếng nói thì thào ở sát vành tai mình hoặc không nghe được tiếng nói bình thường ở cách vành tai một gang tay thì có thể coi như bị điếc.
Bảo vệ sức khoẻ để bảo vệ sức nghe cho đôi tai
Xã hội càng phát triển, tiếng ồn do sản xuất, do giao thông, do sinh hoạt (nhất là ở các đô thị lớn) tác động liên tục lên con người càng làm cho dễ bị nghe kém và điếc. Do đó, cần quy định các mức ồn cho phép theo từng nơi, từng lúc. Kiến trúc đô thị phải bảo đảm có những khu vực yêu cầu yên tĩnh. Các khu công nghiệp lớn, sân bay… phải có quy định cách ly các nguồn ồn cao như xây dựng những bức tường cách âm đủ cao và dài, trồng những hàng rào cây xanh chắn tiếng. Đặc biệt, mỗi người chúng ta giữ vệ sinh mũi họng, chữa kịp thời các bệnh mũi họng là nguồn gốc chính gây viêm tai. Phát hiện và chữa kịp thời viêm tai, dù là viêm tai ngoài hay viêm tai giữa, có mủ hay không mủ. Trong điều kiện thời tiết ở nước ta, viêm tai rất hay gặp và là nguyên nhân quan trọng nhất gây nghe kém và điếc.
GS. Đặng Hiếu Trưng
Phục hồi sức nghe được không?
Ở người cao tuổi, để làm cho tai nghe rõ lại hoặc ngăn không làm bệnh nặng thêm, vấn đề chính là phải tìm ra nguyên nhân.
Đối với nghe kém hoặc điếc do tổn thương tai ngoài, có thể lấy các dị vật như ráy tai, vật lạ kẹt ở ống tai. Cần lưu ý là việc lấy ráy tai hoặc vật nhỏ kẹt trong ống tai phải được làm ở một cơ sở tai mũi họng do những thầy thuốc có tay nghề nhất định, tránh gây xước rách ống tai. Đặc biệt, dụng cụ lấy phải vô trùng, tránh lây bệnh.
Nếu bị viêm họng, chữa khỏi bệnh ở mũi họng có thể giúp cho vòi tai thông thoáng và sức nghe tốt trở lại.
Trường hợp bị điếc do xốp tai ở người cao tuổi, có thể cho đeo máy điếc (máy trợ thính); ít nhất có 50% người trên 60-65 tuổi bị điếc do tuổi đã có thể nhờ máy điếc tăng sức nghe và giúp cho việc giao tiếp xã hội và gia đình dễ dàng hơn. Việc chỉ định dùng được máy điếc hay không, dùng loại nào cần phải tiến hành kiểm tra trong một cơ sở tai mũi họng có máy đo sức nghe.
8 điều cần làm khi khám bệnh
Những khuyến cáo dưới đây được xem là bổ ích khi đi khám bệnh đối với nhóm người cao niên vừa được tạp chí Grandparents của Mỹ cập nhật. Đây là những thông tin bổ ích giúp mọi người nâng cao sức khỏe, tuổi thọ và cải thiện chất lượng cuộc sống cho bản thân.
1. Đừng ngại mỗi khi đi khám bệnh
Nhóm người trung cao niên đi khám bệnh, gặp bác sĩ thường ngại phiền hà nhưng theo các bác sĩ thì mọi người hãy gạt bỏ những ý nghĩ này, tự đi khám bệnh nếu còn khỏe hoặc nhờ người nhà đưa đi. Khi đi khám không nên giấu bệnh, cần trung thực khi nói về tiền sử bệnh tật, triệu chứng đang mắc phải, các loại thuốc đã và đang dùng… Nhờ các thông tin này sẽ giúp bác sĩ nhanh chóng tìm ra nguyên nhân và có liệu pháp điều trị hiệu quả.
2. Cung cấp chính xác các triệu chứng
Theo các chuyên gia ở Đại học y khoa George Washington (UOW), để tránh chẩn đoán nhầm và làm các xét nghiệm không cần thiết, khi đi khám bệnh cần cung cấp chính xác các triệu chứng. Thay vì nói “tôi bị mệt”, có thể nói “tôi bị đau nửa đầu trong 10 năm, nhưng ba ngày gần đây đau quá không thể dậy được và lo bị chảy máu não”. Ngoài ra có thể cung cấp các thông tin liên quan đến triệu chứng đau nửa đầu mà bản thân mắc phải trong thời gian gần đây. Tuy nhiên trước khi đến gặp bác sĩ, mọi người cần tóm tắt thông tin ngắn gọn nhất có thể để giúp bác sĩ hiểu cụ thể sức khỏe, từ đó chẩn đoán và kê đơn chính xác hơn.
3. Giảm cân theo khuyến cáo của bác sĩ
Giảm cân mang lại nhiều lợi ích, ví dụ như: làm giảm huyết áp, giảm đau và căng thẳng lên các khớp gối, giảm nguy cơ mắc bệnh tiểu đường, bệnh tim mạch, thậm chí một số nghiên cứu cho thấy giảm được cả bệnh ung thư. Muốn làm được điều này ở nhóm trung cao tuổi nên giảm tiêu thụ thực phẩm, và duy trì cuộc sống vận động, năng luyện tập, và tránh xa các chất kích thích như thuốc lá và rượu.
4. Không nên dùng Internet để khám bệnh
Do ngại đi khám bệnh lại có sẵn mạng nên nhiều người đã dùng Internet để chẩn đoán bệnh và kê đơn cho bản thân, ví dụ khi buồn nôn, chóng mặt hay mệt mỏi, nhức đầu. Tuy lợi ích ai cũng biết nhưng cách làm này chứa đựng nhiều tiềm ẩn bởi các thông tin trên mạng chưa được kiểm chứng, kể cả dược phẩm online. Nếu tham khảo các thông tin này thì chỉ nên vào các trang web chính thống của chính phủ hay các cơ quan y tế đã được cấp phép và tin cậy. Còn khi đi khám chữa bệnh, tốt nhất nên đến bệnh viện, phòng mạch gặp trực tiếp bác sĩ hoặc tư vấn các chuyên gia có bằng cấp và kinh nghiệm điều trị.
5. Không phải ai cũng cần uống 1 viên aspirin mỗi ngày
Có nhiều nghiên cứu phát hiện thấy dùng aspirin hàng ngày có tác dụng tốt trong việc ngăn ngừa cơn đau tim và đột quỵ do hiệu ứng làm loãng máu, nhưng không phải cho tất cả mọi người. Theo tiến sĩ Egener ở UOW, việc dùng aspirin phải dựa trên sức khỏe cụ thể của từng cá thể, riêng nhóm người mắc bệnh xuất huyết dạ dày thì hại nhiều hơn lợi. Bằng chứng, qua nghiên cứu cho thấy ngay cả khi ở liều rất thấp cũng có thể gây chảy máu đường ruột. Do làm loãng máu nên nó tác động đến tiểu cầu, nhất là khi máu trở nên loãng hơn, làm tăng nguy cơ chảy máu trong ruột, nhất là nhóm người có tiền sử mắc bệnh đau dạ dày, bệnh đường ruột. Vì lý do nói trên khi dùng viên aspirin hàng ngày nhất thiết phải tư vấn bác sĩ.
Ảnh minh hoạ.
6. Nên có người đi cùng
Những người cao niên khi đi khám bệnh cần có người thân đi cùng để hỗ trợ, cả về tinh thần lẫn hỗ trợ thể chất, và các vấn đề liên quan đến công việc khám, lĩnh hội đầy đủ ý kiến của chuyên môn, nhất là nhóm người có sức nghe kém, mắc bệnh lú lẫn. Riêng trường hợp sức khỏe thể chất yếu, nhất thiết phải có người đi cùng để hỗ trợ việc đi lại, cung cấp thông tin đầy đủ cho bác sĩ, giúp bác sĩ hiểu được bệnh tình và đưa ra những giải pháp điều trị thích hợp.
7. Khám theo lịch hẹn
Đây là việc làm khoa học, tiết kiệm thời gian cho cả hai bên. Thậm chí, có thể hẹn cụ thể thời gian cũng như các nội dung cần khám, không nên tự ý đến phòng mạch, yêu cầu khám theo ý cá nhân trừ cấp cứu.
8. Những việc cần làm trước khi đi khám bệnh
Mỗi khi đi khám bệnh mọi người, kể cả người thân cần làm tốt công việc chuẩn bị như: tiền nong, sổ bảo hiểm y tế, giấy hẹn… Nếu phải làm các xét nghiệm thì nên tuân thủ các hướng dẫn của bác sĩ như nhịn ăn, lấy máu, nước tiểu hoặc các phẩm vật cần cho xét nghiệm. Không nên uống thuốc, dùng rượu bia trước khi đi khám bệnh. Nên mang đầy đủ giấy tờ tùy thân, bệnh án, đôi khi cả những vỏ thuốc, đơn thuốc đã dùng. Nếu cần, có thể viết cụ thể trên giấy những điều bản thân cần trao đổi với bác sĩ, nếu nghe không rõ đề nghị bác sĩ nói to, điều gì chưa rõ cần hỏi lại, nhất là cách dùng thuốc. Trường hợp khó khăn kinh tế có thể thảo luận cùng bác sĩ để chuyển sang dùng nhóm thuốc rẻ tiền hơn cho phù hợp.
Bệnh sỏi bàng quang
Sỏi bàng quang chiếm tỉ lệ khoảng 1/3 số ca sỏi đường tiết niệu, là loại bệnh gặp ở nam giới nhiều hơn nữ, với nhiều nguyên nhân khác nhau. Sỏi bàng quang khá đa dạng, có thể là sỏi từ thận, niệu quản (hoặc cả hai) rơi xuống. Khi sỏi đã xuống bàng quang, nếu là sỏi nhỏ, có thể được đào thải ra ngoài khi tiểu tiện; nếu sỏi lớn, sẽ nằm lại bàng quang, lâu ngày sỏi to dần lên do các cặn sỏi có sẵn trong bàng quang tiếp tục bám vào.
Nguyên nhân của sỏi bàng quang
Một số trường hợp, sỏi bàng quang được hình thành ngay tại bàng quang do một thời gian dài người bệnh sử dụng thuốc điều trị các bệnh khác có nhiều chất làm kết tủa, lắng đọng gây ra sỏi hoặc sử dụng nhiều chất khoáng, canxi, photpho… trong khi đó người bệnh lại uống ít nước.
Phải nói rằng, bất kỳ nguyên nhân nào làm ứ đọng nước tiểu đều có nguy cơ bị sỏi bàng quang (túi thừa bàng quang, viêm, nhiễm trùng, u, cục) hoặc cổ bàng bi chít hẹp do u xơ tiền liệt tuyến, viêm tiềm liệt tuyến mãn tính (nam giới) đè vào cổ bàng quang gây ứ đọng nước tiểu. Đây là các nguyên nhân hay gặp nhất ở NCT. Một số trường hợp sỏi bàng quang là do chít hẹp niệu đạo, hoặc do có dị vật trong bàng quang, từ đó gây nên ứ đọng nước tiểu, ứ đọng cặn sỏi tạo thành sỏi. Ngoài ra, một số trường hợp do hạn chế đi lại (công tác văn phòng, lái xe đường dài) hoặc thường xuyên nhịn tiểu (thoái hóa cột sống thắt lưng, viêm khớp cùng chậu, bại liệt, tai biến mạch máu não…) là một trong những nguyên nhân gây nên sỏi bàng quang. Một số NCT lười hoặc ngại uống nước, ngại ăn rau, ngại uống nước canh, do đó nước tiểu ít không đào thải được các chất lắng cặn ra ngoài.
Một số người bị sỏi bàng quang nhưng không có biểu hiện gì đặc biệt, vì một lý do nào đó tình cờ phát hiện do siêu âm ổ bụng bởi khám bệnh định kỳ hoặc đau bụng với nguyên nhân khác. Đa số sỏi bàng quang có đái rắt nhiều lần, nhất là ban ngày do đi lại, vận động nhiều.
Phẫu thuật lấy sỏi
Trong trường hợp bàng quang bị nhiễm khuẩn (viêm bàng quang), nước tiểu đục, đôi khi nước tiểu có màu đỏ (đái máu) và có sốt nhẹ. Có thể đau bụng dưới, đái khó, đau, buốt gây khó khăn trong lúc tiểu tiện làm gián đoạn bởi các các nguyên nhân khác kèm theo (u xơ tiền liệt tuyến, chít hẹp niệu đạo…). Nếu không được chẩn đoán và điều trị sớm sẽ dẫn đến biến chứng viêm bàng quang bởi sỏi to làm tổn thương niêm mạc bàng quang, khi co bóp, sỏi cọ xát nhiều lần vào niêm mạc gây viêm, loét và nhiễm khuẩn, thậm chí chảy máu.
Viêm bàng quang cấp nếu không được điều trị sẽ dẫn đến viêm mạn tính, từ đó có thể gây teo bàng quang hoặc rò bàng quang do lượng nước tiểu thay đổi liên tục.
Sỏi bàng quang còn có thể gây nên các biến chứng rất nguy hiểm là viêm thận do nhiễm khuẩn ngược dòng và suy thận. Đây là các biến chứng gây nên không ít khó khăn cho điều trị, ảnh hưởng rất lớn đến kinh tế, thậm chí gây nguy hiểm đến tính mạng. Ngoài ra, sỏi to sẽ gây kích thích, chèn ép, bít tắc cổ bàng quang (chỗ nối bàng quang và niệu đạo) làm cho người bệnh bị đau buốt vùng hạ vị. Cơn đau hạ vị có thể lan dần ra phía đầu bộ phận sinh dục ngoài hoặc tầng sinh môn, trội lên về cuối bãi tiểu tiện (nam giới, đôi khi phải bóp chặt đầu dương vật để đỡ đau, ở nữ giới nước tiểu chảy ri rỉ qua âm đạo hoặc hậu môn gây nhiễm khuẩn). Biến chứng rò bàng quang, tầng sinh môn hoặc rò âm đạo (nữ giới), nước tiểu cũng chảy ri rỉ qua âm đạo hoặc hậu môn gây nhiều bất tiện trong sinh hoạt và gây nhiễm trùng. Một số trường hợp, sỏi bàng quang to, có thể gây bí tiểu hoàn toàn làm nước tiểu ứ lại trong bàng quang, bàng quang căng phồng, tạo nên “cầu bàng quang” ở trên xương mu.
Nguyên tắc điều trị và phòng bệnh
Tùy thuộc vào tình trạng cụ thể của NCT mà có thể phải tán sỏi hoặc phẫu thuật, do đó, khi bị sỏi bàng quang, nên đến các cơ sở y tế chuyên khoa có uy tín với trang thiết bị đầy đủ để được chẩn đoán và điều trị bệnh sớm, tránh trường hợp để bệnh quá nặng gây nguy hiểm đến tính mạng người bệnh. Nguyên tắc là, khi sỏi còn nhỏ có thể dùng thuốc để làm tan dần sỏi, sỏi sẽ theo nước tiểu ra ngoài, thêm vào đó nên dùng thuốc kháng sinh chống nhiễm khuẩn (nếu có biểu hiện viêm nhiễm). Sỏi to, cần tán sỏi hoặc phẫu thuật lấy sỏi càng sớm càng tốt.
Sỏi bàng quang trên phim
Phòng bệnh là việc làm vô cùng cần thiết, bởi vì, nguyên nhân gây sỏi thường là do ứ đọng nước tiểu lâu ngày. Dó đó, hằng ngày cần uống đủ nước (1,5 - 2,0 lít/ngày), bao gồm cả nước có trong thức ăn, rau, canh, củ, quả và không được nhịn tiểu. Cần vận động cơ thể đều dặn bằng hình thức tập thể dục, đi bộ, bơi và không nên ngồi, nằm một chỗ với thời gian lâu. Cần đi khám bệnh ngay khi có rối loạn tiểu tiện (đái rắt, đái buốt hay đái đục, đái ra máu).
PGS.TS. BÙI KHẮC HẬU
“Điểm mặt” bệnh tiêu hóa thường gặp
Bộ máy tiêu hóa được tính từ miệng cho tới hậu môn (chưa kể đến một số cơ quan khác không thuộc đường tiêu hóa nhưng có vai trò khá quan trọng trong việc tiêu hóa thức ăn như: hàm răng, mật, tụy tạng). Ở bất kỳ vị trí nào của đường tiêu hóa cũng có thể bị bệnh. Với NCT càng dễ bị bệnh hơn bởi chức năng, bài tiết dịch vị, co bóp của đường tiêu hóa càng ngày càng sa sút do quá trình lão hóa.
Một số bệnh tiêu hóa thường gặp
Bộ răng tuy không thuộc bộ máy tiêu hóa nhưng chúng tham gia rất đắc lực trong việc nghiền thức ăn để khi dịch tiết ra từ nước bọt thấm vào thức ăn đã được nhai kỹ sẽ được tiêu hóa tốt. Khi hàm răng bị lung lay, sâu, rụng hoặc đeo hàm răng giả, NCT sẽ bị ảnh hưởng rất lớn đến việc tiêu hóa thức ăn. Khi thức ăn xuống dạ dày nhưng không được nghiền nát kỹ, không ngấm nhiều nước bọt (trong nước bọt có nhiều men tiêu hóa) sẽ rất khó tiêu hóa (mặc dù đã có dịch vị của dạ dày), lúc này môn vị sẽ không mở hoặc không mở hết để hỗn dịch thức ăn xuống hành tá tràng. Thức ăn ứ đọng trong dạ dày gây ậm ạch, đầy bụng rất khó chịu.
NCT có thể bị loét miệng là một bệnh thường gặp do sức đề kháng kém, virút Herpes rất dễ tấn công. Khi bị loét miệng gây rát bỏng, đau ảnh hưởng rất nhiều đến ăn, uống của NCT.
Một số bệnh như: ăn, uống bị nghẹn có thể gặp ở một số NCT. Nghẹn, nuốt khó, nuốt vướng có thể là cơ năng nhưng có thể là bệnh lý, thậm chí bệnh lý nguy hiểm. Ăn, uống thường bị nghẹn có thể do rối loạn thần kinh thực vật, các cơ thuộc về thực quản đã yếu do lão hóa (sự co giãn của cơ kém), trong một số trường hợp có thể do khối u (u lành hoặc u ác tính).
NCT có thể mắc hội chứng trào ngược dạ dày - thực quản, dịch vị, thức ăn bị trào ngược lên thực quản, họng gây viêm họng, loét họng và ảnh hưởng đến tiêu hóa thức ăn ở dạ dày.
Bệnh về dạ dày - tá tràng là một bệnh gặp khá phổ biến ở nước ta, vì vậy, NCT có thể gặp phải bệnh này. Có nhiều nguyên nhân gây nên bệnh lý dạ dày ở NCT nhưng có một nguyên nhân cần được lưu ý là dùng thuốc giảm đau trong các bệnh xương khớp mà NCT thường gặp phải các loại bệnh này. Bệnh dạ dày gây ảnh hưởng rất lớn đến đời sống và sinh hoạt của người bệnh, nếu không chữa trị đúng có thể gây ra một số biến chứng nguy hiểm như: chảy máu, thủng dạ dày - tá tràng, thậm chí gây ung thư dạ dày.
Bệnh thuộc đường tiêu hóa ở NCT phải kể đến viêm đại tràng mãn tính, hội chứng ruột kích thích (viêm đại tràng co thắt, viêm đại trành xích ma). Đây là bệnh gây không ít phiền toái cho NCT. Các loại bệnh này gây rối loạn tiêu hóa, ăn không tiêu, đầy hơi, bụng đau âm ỉ, trướng bụng, phân khi rắn, khi lỏng.
Bên cạnh đó, NCT có thể mắc bệnh táo bón. Táo bón ở NCT với nhiều nguyên nhân gây nên nhưng thường gặp là uống ít nước, ăn ít rau, chất xơ và ít vận động. Hậu quả của táo bón sẽ làm cho NCT luôn cảm thấy mệt mỏi, bụng khó chịu, chán ăn và điều quan trọng là táo bón lâu ngày có thể gây nên bệnh trĩ nội. Một số bệnh thuộc đường dẫn mật như: viêm, sỏi đường mật, túi mật sẽ làm ảnh hưởng đến quá trình tiêu hóa thức ăn, bởi vì dịch mật có vai trò quan trọng trong tiêu hóa thức ăn khi chúng xuống tá tràng, ruột. Trong quá trình tiêu hóa thức ăn, dịch tụy cũng đóng vai trò rất quan trọng, vì vậy, khi tụy tạng lâm bệnh cũng ảnh hưởng đến quá trình tiêu hóa thức ăn.
NCT cũng có thể mắc một bệnh nhiễm trùng đường tiêu hóa như: ngộ độc thực phẩm gây viêm dạ dày - ruột cấp tính, tiêu chảy cấp, bệnh kiết lỵ hoặc bệnh viêm ruột thừa cấp tính.
Viêm đại tràng mãn tính
Nguyên tắc chữa trị và phòng bệnh
Để chẩn đoán đúng bệnh tiêu hóa của NCT không đơn giản, nhất là NCT đã giảm trí nhớ, đặc biệt khi bị đau bụng. Bởi vì, đau bụng có nhiều nguyên nhân khác nhau gây nên từ các bộ phận tiêu hóa (dạ dày, ruột thừa, đại tràng, bệnh đường mật, bệnh tụy tạng). Vì vậy, khi NCT có đau bụng, rối loạn tiêu hóa nên được khám bệnh càng sớm càng tốt, nên khám toàn diện để xác định bệnh và mối liên quan của các bệnh với nhau (ví dụ, cân nhắc điều trị bệnh khớp và bệnh dạ dày trên cùng một người bệnh). Một số bệnh tiêu hóaở NCT cần kiên trì điều trị với chỉ định của bác sĩ khám bệnh, không nôn nóng và không tự động thay đổi thuốc (ví dụ bệnh hội chứng ruột kích thích, viêm đại tràng mãn…).
Lời khuyên của thầy thuốc
Để phòng bệnh, NCT nên có chế độ dinh dưỡng hợp lý, trong các bữa ăn cần có đủ rau. Hàng ngày nên uống đủ lượng nước (khoảng 1,5 lít), uống làm nhiều lần và nên tăng cường ăn trái cây, các loại quả có nhiều nước như dưa hấu. Một số bệnh ngoài việc dùng thuốc, cần kiêng khem ăn chua, cay, kiêng uống rượu, bia (bệnh dạ dày, đại tràng), người bệnh nên thực hiện nghiêm túc, bệnh mới chóng khỏi. Nên vận động cơ thể với các hình thức khác nhau tùy theo điều kiện của từng người.
Thứ Năm, 26 tháng 3, 2015
Món ăn - thuốc dưỡng gan, sáng mắt
Ngày nay, con người phải làm việc nhiều trên máy tính; người cao tuổi bị đục thủy tinh thể, trẻ em học, đọc sách báo, xem tivi không đúng cách... nên dễ bị căng thẳng thần kinh, mệt mỏi, đau vai, lưng... đặc biệt là suy giảm thị lực. Đông y cho rằng nguyên nhân chủ yếu do bẩm sinh hoặc do bệnh tật khiến can thận suy yếu, khí huyết hư suy gây nên.
Chữa bệnh bằng ẩm thực là một trong nhiều phương pháp nhằm bổ dưỡng can thận, ích khí dưỡng huyết giúp tăng cường thị lực. Xin giới thiệu cùng bạn đọc các món ăn giúpsáng mắt.
Cháo quyết minh cúc hoa: quyết minh tử 15g, cúc hoa 8g, gạo lức 100g.
Quyết minh tử sao cho thơm, hoa cúc trắng sao qua. Hai thứ cho vào nồi, đổ 200ml nước ninh còn 100ml, bỏ bã, cho thêm nước vừa đủ rồi cho gạo đã vo sạch và đường phèn vào nấu cháo. Ngày ăn 1 - 2 lần, ăn liền 5 - 7 ngày là một liệu trình.
Công dụng: bổ can, tỳ. Trị cận thị hoa mắt, đục thủy tinh thể.
Cháo củ từ dạ minh sa: dạ minh sa 10g, củ từ 30g, dây tơ hồng 10g, gạo lức 60g, đường đỏ vừa đủ. Tất cả cho vào túi vải đổ 100ml nước ninh còn 500ml, cho gạo đã vo sạch và đường đỏ vào nấu cháo, cháo chín cho đường đỏ vào. Ăn trong ngày, liền 15 - 20 ngày.
Công dụng: bổ can, tỳ. Trị cận thị hoa mắt, đục thủy tinh thể.
Cháo gan dê: gan dê 1 cái, gạo 60g, hành, muối vừa đủ. Gan dê rửa sạch thái miếng, đổ nước vừa đủ đun chín, sau cho gạo đã vo sạch vào nấu cháo, cháo chín cho gia vị. Ngày ăn 1 bát, ăn liền 7 ngày.
Công dụng: dưỡng can sáng mắt chữa cận thị, quáng gà, hoa mắt.
Cháo gan dê
Cháo câu kỷ tử: câu kỷ tử 20g, gạo nếp 50g, đường trắng vừa đủ. Tất cả cho vào nồi, đổ nước ninh nhừ thành cháo. Ăn vào sáng và tối, có thể ăn lâu dài.
Công dụng: dưỡng âm, bổ huyết, ích tinh, minh mục. Trị cận thị, hoa mắt chóng mặt, thị lực giảm, váng đầu ù tai, lưng gối mỏi, xơ cứng động mạch, viêm gan mạn tính.
Canh gan lợn trứng gà: gan lợn 200g, trứng gà 1 quả, hành 4 - 5 cây. Gan rửa sạch thái lát, cho nước luộc chín, đập trứng vào khuấy đều, khi chín cho hành, gia vị là được. Ăn tùy ý.
Công dụng: bổ huyết, dưỡng gan, sáng mắt, trị cận thị, quáng gà.
Canh gan lợn, rau chân vịt: gan lợn 100g, rau chân vịt 150g, gừng, hành, muối, bột ngọt, dầu ăn vừa đủ. Gan rửa sạch thái mỏng, rau rửa sạch cắt ngắn. Đổ nước vào nồi, cho gừng băm nhỏ, dầu ăn, muối, đun to lửa cho sôi rồi cho gan, rau vàos, gan chín cho gia vị là được, ăn kèm trong bữa ăn.
Công dụng: bổ gan, dưỡng huyết, bổ âm nhuận táo. Trị cận thị, hoa mắt, nhìn vật lờ mờ, váng đầu ù tai, chân tay tê bại.
Lương y Đình Thuấn


Thứ Tư, tháng 5 20, 2015
doanh nhan