This is featured post 1 title
Replace these every slider sentences with your featured post descriptions.Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these with your own descriptions.
This is featured post 2 title
Replace these every slider sentences with your featured post descriptions.Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these with your own descriptions.
This is featured post 3 title
Replace these every slider sentences with your featured post descriptions.Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these with your own descriptions.
Thứ Năm, 26 tháng 3, 2015
Lời khuyên cho bệnh nhân chuẩn bị mổ nội soi đại trực tràng
TS. Khanh cho rằng, phần lớn ung thư đại trực tràng xuất hiện ở những người trên 50 tuổi. Chính vì vậy cần tiến hành soi đại tràng cho tất cả mọi người ở lứa tuổi > 50, kể cả những người không có triệu chứng. Nếu soi đại tràng hoàn toàn bình thường và không có polyp thì sau mười năm mới phải soi lại.
- Những người có nguy cơ cao ung thư đại trực tràng: khi soi đại tràng phát hiện có từ 3-10 polyp loại tuyến ống (tubular adenomas) trở lên hoặc có loạn sản mức độ cao hoặc polyp loại nhung mao hoặc loại ống tuyến nhung mao hoặc polyp có kích thước ³ 1 cm bệnh nhân cần được soi lại tại thời điểm 3 năm sau đó. Nếu có > 10 polyp tuyến cần soi lại trong vòng trước 3 năm. Đối polyp răng cưa (serrated polyp) ³ 1cm soi lại tại thời điểm 3 năm sau đó.
- Những người ít có nguy cơ ung thư đại trực tràng: khi soi đại tràng phát hiện có 1-2 polyp loại tuyến ống, hoặc polyp kích thước nhỏ <1 cm và không có loạn sản mức độ cao, những bệnh nhân này soi đại tràng lại sau 5-10 năm. Đối polyp răng cưa < 1 cm và không có loạn sản soi lại tại thời điểm 5 năm sau đó. Đối với trường hợp polyp tăng sản (hyperplastic polyp) bệnh nhân cần soi lại tại thời điểm 10 năm sau đó.
- Những người có tiền sử gia đình: bố mẹ, anh em ruột và con bị ung thư đại trực tràng cần soi đại tràng để sàng lọc ở tuổi 40 hoặc trước 10 năm so với tuổi của người thân bị ung thư đại trực tràng.
- Những người bị viêm loét đại tràng chảy máu hoặc bị bệnh Crohn: cần soi đại tràng hàng năm kể từ năm thứ 8 khi phát hiện bị tổn thương toàn bộ đại tràng hoặc từ năm thứ 12 đối với tổn thương toàn bộ đại tràng trái. Để phát hiện những tổn thương loạn sản.
- Những người bị hội chứng polyp có tính chất gia đình (Familial adenomatous polyposis -FAP) cần soi đại tràng hàng năm.
- Đối với bệnh nhân ung thư đại trực tràng mà trước khi mổ chưa được nội soi đại tràng toàn bộ vì các lý do khác nhau như: phải mổ cấp cứu do có tắc ruột hoặc chưa soi hết đại tràng vì bán tắc ruột…, thì sau khi mổ 3 - 6 tháng phải được soi đại tràng toàn bộ để phát hiện những vị trí ung thư khác tại đại tràng. Nếu hình ảnh nội bình thường, bệnh nhân cần nội soi lại ở thời điểm 1 năm, 3 năm và 5 năm sau khi được phẫu thuật. Nếu khi soi phát hiện thấy có polyp thì việc theo dõi sẽ theo hướng dẫn về polyp phần trên.
- Đối với bệnh nhân ung thư đại trực tràng mà trước khi mổ đã được nội soiđại tràng toàn bộ: bệnh nhân cần nội soi lại ở thời điểm 1 năm, 3 năm và 5 năm sau khi được phẫu thuật.
- Đối với bệnh nhân ung thư trực tràng: bệnh nhân cần được soi đại tràng sigma cứ 3- 6 tháng 1 lần trong 2 năm đầu.
Nếu nội soi đại tràng toàn bộ không có thuốc giảm đau, tiền mê và gây mê thì bệnh nhân rất đau và khó chịu. Phần lớn bệnh nhân đã soi đại tràng mà không có tiền mê và gây mê thì không muốn nội soi đại tràng lại lần 2. Để phòng tránh được ung thư đại tràng thì phương pháp tốt nhất là phải nội soi đại tràng toàn bộ.
Ngày nay, phần lớn bệnh nhân soi đại tràng tại khoa Tiêu hóa, BV Bạch Mai được nội soi tiền mê bằng fentanyl phối hợp cùng midazolam hoặc gây mê bằng propofol. Đây là phương pháp nội soi đại tràng rất an toàn và không có hại cho sức khỏe của bệnh nhân, điều này đã được Hội nội soi Tiêu hóa Hoa Kỳ chấp nhận, đồng thời, người bệnh cảm thấy không khó chịu khi nội soi. Vì vậy, khi cần phải nội soi đại tràng lại theo định kỳ người bệnh dễ dàng chấp nhận.
Chuẩn bị trước và sau nội soi đại tràng như thế nào?
Bữa tối trước ngày soi đại tràng bệnh nhân ăn bình thường, nhưng không ăn rau và chất xơ
- Đối với người đại tiện hành ngày bình thường: bệnh nhân uống thuốc rửa ruột trong khoảng 3 giờ.
- Đối với người bị táo bón: cần uống thuốc nhuận tràng làm mềm phân trong 3-4 ngày để giúp bệnh nhân đi ngoài bình thường trước khi soi.
- Đối với bệnh nhân nghi bán tắc ruột: như đau bụng thành cơn, không đại tiện được không được cho dùng thuốc rửa ruột mà phải thụt tháo làm sạch đại tràng trước khi soi.
- Đối với những người trên 50 tuổi nên xét nghiệm công thức máu và đông máu trước khi nội soi, vì nếu phát hiện có polyp sẽ tiến hành cắt luôn trong quá trình nội soi, tránh cho bệnh nhân phải nội soi lần sau.
- Đối với nội soi đại tràng có tiền mê và gây mê, sau khi soi bệnh nhân không tự điều khiển các phương tiện giao thông.
Cũng theo TS. Khanh, cho tới nay không có xét nghiệm nào có khả năng dự báo là một người bị ung thư đại trực tràng ở giai đoạn sớm, ngay cả với xét nghiệm CEA (Carcinoembryonic antigen). CEA có thể tăng trong máu ở người ung thư tụy, ung thư dạ dày, ung thư tuyến giáp, ung thư vú và tăng cả trong những bệnh không bị bệnh ung thư như: viêm loét đại tràng chảy máu, xơ gan, bệnh phổi tắc nghẽn, bệnh crohn và suy tuyến giáp. Chính vì vậy, CEA cũng được khuyến cáo không nên sử dụng như một xét nghiệm để sàng lọc phát hiện ung thư đại tràng. PET- CT được coi phương tiện hiện đại phát hiện di căn ung thư, nhưng cũng không phải phương tiện được áp dụng để sàng lọc phát hiện ung thư đại trực tràng ở giai đoạn sớm.
Như vậy, để phát hiện sớm và chữa khỏi ung thư đại tràng thì cách tốt nhất là nội soi đại tràng toàn bộ, đặc biệt là đối với người có nguy cơ cao bị ung thư đại trực tràng.
D.Hải
Phòng chuột rút về đêm
Theo thống kê, có khoảng 1/3 số người trên 60 tuổi và 1/2 số người từ 80 tuổi trở lên thường bị chuột, nhất là vào ban đêm. Trong đó có tỉ lệ 4/10 số người bị chuột rút 3 lần/tuần, thậm chí có một số người bị chuột rút mỗi ngày.
Nguyên nhân gây chuột rút?
Có nhiều nguyên nhân khác nhau gây nên chuột rút, do thiếu oxy đến cung cấp cho cơ hoặc rối loạn một số chất điện giải quan trong như thiếu can xi hoặc ka li máu. Hiện tượng thiếu oxy và chất điện giải vẫn có thể xảy ra nhất ở người cao tuổi (NCT) nhưng sức khỏe còn dồi dào, do đó khả năng lao động còn tốt hoặc có khả năng tập thể thao với các động tác vận động mạnh, nhiều, liên tục không nghỉ ngơi. Chuột rút ở NCT còn do đứng, ngồi quá lâu.hoặc do khi nằm ngủ với tư thế để chân không đúng hoặc ngủ với thời gian dài không thay đổi tư thế làm cho máu lưu thông không tốt và lượng oxy đến cung cấp cho cơ kém. NCT khi lao động nặng, chơi thể thao với các môn chơi mất nhiều năng lượng, làm cho lượng mồ hôi bài tiết quá nhiều mà không được bù đắp hoặc bù dắp nhưng không đủ cũng có khả năng gây nên chuột rút. Chuột rút ở NCT còn có thể do lạnh (bơi lội về chiều, ban đêm ngủ bị lạnh). Chuột rút gặp ở NCT còn có thể do mắc một số bệnh mãn tính, kéo dài như: đái tháo đường, loãng xương, tuyến giáp trạng, rối loạn chuyển hóa, rối loạn thần kinh thực vật (ra mồ hôi và ra liên tục cả ban ngày lẫn ban đêm làm mất chất điện giải và nước). Một số NCT mắc bệnh thiếu máu, bệnh Parkinson hoặc mắc chứng rối loạn về thần kinh hoặc bệnh mạch máu hai chân (suy giãn tĩnh mạch hoặc tắc mạch), bệnh xơ gan cũng gây nên chuột rút, nhất là ban đêm.
Chuột rút về đêm có thể xảy ra ở NCT đang dùng một số thuốc điều trị bệnh mãn tính nào đó (thuốc lợi tiểu, thuốc hạ mỡ máu nhóm statin, clofibrate, thuốc chống trầm cảm, thuốc hạ huyết áp nifedipine, thuốc dạ dày cimetidine, giãn phế quản salbutamol, terbutaline...). Một số NCT bị suy thận phải lọc máu cũng có thể bị chuột rút, nhất là về ban đêm.
Ngoài ra chuột rút về đêm ở NCT còn có thể xảy ra do cơ thể thiếu lượng nước cần thiết hàng ngày (NCT thường ngại uống nước vì phải đi tiểu nhiều, nhất là ban đêm) hoặc do chế dộ ăn, uống để thiếu lượng vi chất cần thiết cho cơ thể (canxi, magiê, kali, natri clorua) hoặc do ra nhiều mồ hôi hoặc trong trường hợp bị tiêu chảy, nôn nhiều.
Xử trí chuột rút thế nào?
Chuột rút về đêm, xảy ra đột ngột, đang ngủ bỗng dưng xuất hiện chuột rút gây đau đớn, thậm chí rất đau, co quắp các ngón tay, ngón chân, cơ bắp cẳng chân. Lý do là ở NCT, thần kinh ở chân, nhất là vùng cẳng chân, bàn chân thường dễ bị kích thích hơn, điều đó dễ dẫn đến bắp thịt bị co bóp và đọng chất can xi ở trong các tế bào của các bắp thịt nhiều hơn, khiến cho chúng khó giãn ra hơn và gây đau. Vì vậy, khi chuột ở cơ bắp chân, cần duỗi thẳng chân ra và nhẹ nhàng uốn cong các ngón chân ra phí sau, ép mạnh một tay vào gót chân. Lúc mới áp dụng có thể thấy đau tăng lên nhưng ngay sau đó cơn đau sẽ giảm xuống do các cơ hết co thắt, máu lại được lưu thông trở lại. Khi đã hết hiện tượng chuột rút, nên xoa bóp nhẹ nhàng vùng cơ bắp vừa bị co cứng để cho máu hoạt động lưu thông trở lại tránh xảy ra chuột rút tái diễn. Tại nơi bị chuột rút, có thể xoa các loại dầu làm nóng da và cơ hoặc chườm lạnh bằng túi đá hoặc tắm nước ấm để máu càng dễ lưu thông và nên cố gắng đứng dậy đi hoặc lắc lư chân.
NCT cần lưu ý, trong đa số các trường hợp chuột rút, nhất là chuột rút về đêm là lành tính và triệu chứng đơn độc. Nếu chuột rút đi kèm các triệu chứng khác như: ăn nhiều, thèm đường, uống nhiều, tiểu nhiều, mệt mỏi, sợ lạnh, tăng cân, da xanh xao, nhợt nhạt hoặc bị đau chân khi đi bộ với một quảng đường ngắn thì cần đến cơ sở y tế đủ điều kiện để khám bệnh, không nên chủ quan, xem thường đề phòng có bệnh tiềm ẩn nào đó (ví dụ, nghẽn động mạch chân, biến chứng của bệnh đái tháo đường).
Phòng chuột rút về đêm như thế nào?
NCT nên tập thể dục đều đặn, thường xuyên để làm lưu thông khí huyết. Mỗi ngày nên tập vận động như đi bộ, tập xoa bóp cơ bắp, co duỗi và xoay cổ tay, cổ chân vài ba lần hoặc tập kéo căng cơ bắp chân vài phút trước khi ngủ. Không nên tắm khi nước lạnh quá, nhất là tắm ở biển, bể bơi nước lạnh. Khi làm việc nặng, ra mồ hôi nhiều cần được bổ sung nước có pha muối ăn (tốt nhất là bổ sung nước muối sinh lý). Cần uống đủ lượng nước trong một ngày/đêm (khoảng trên 1,5lít). Nên ăn nhiều rau trong các bữa ăn chính, sau mỗi bữa ăn nên bổ sung các loại quả như: chuối, mơ, chà là, nho, đậu, bắp cải, cam, cà chua, đu đủ, xoài, sầu riêng, lựu, lê. Nên hạn chế hoặc bỏ rượu, bia.
PGS.TS. BÙI KHẮC HẬU
Biến chứng do sốt ở người cao tuổi
Sốt không phải là bệnh, mà chỉ là triệu chứng của nhiều bệnh. Thời gian qua, do thời tiết bất thường khiến nhiều người cao tuổi nhập viện do sốt cao, người nhà không phát hiện hoặc không biết cách xử trí nên dẫn đến nhiều biến chứng nghiêm trọng hoặc làm nặng thêm các bệnh lý mạn tính như: bệnh tim mạch, tăng huyết áp, đái tháo đường...
Biểu hiện sốt khi nào ?
Sốt là một triệu chứng thông thường ở người cao tuổi, thường không rõ rệt, không tương xứng với bệnh lý đang có trong cơ thể người bệnh. Có rất nhiều nguyên nhân gây sốt ở người cao tuổi. Theo thống kê có khoảng 10% các trường hợp không tìm được nguyên nhân do tuổi cao khiến cơ chế điều hòa thân nhiệt ở người cao tuổi kém, hệ thống miễn dịch suy giảm nên dễ có phản ứng khi có sự xâm nhập của vi trùng, virut thậm chí với thời tiết. Mặt khác mắc các bệnh cảm cúm thông thường cũng có thể gây sốt đối với người cao tuổi nhưng do thói quen chủ quan, ít chú ý nên khiến các triệu chứng của bệnh lý kèm theo thường trầm trọng. Vì vậy, nếu tình trạng người cao tuổi sốt trên 38 độ C và kéo dài từ 1 - 3 tuần lễ thì được coi là sốt kéo dài.
Viêm phế quản là một trong những nguyên nhân gây sốt ở người cao tuổi.
Theo thống kê có khoảng 40% người cao tuổi sốt do bệnh lý nhiễm trùng, nhiễm khuẩn trong đó kể đến là viêm phế quản, viêm phổi, viêm đường tiểu, viêm hay áp xe gan mật...; lao phổi, lao thận - niệu, lao xương sống... sốt rét. Khoảng 30% do một số bệnh ác tính trong đó ung thư hệ tạo huyết; ung thư gan, thận, ruột, phổi, tụy, dạ dày...khoảng 15% do bệnh hệ thống (thấp khớp, lupút ban đỏ...).
Nhiều biến chứng do sốt
Khi người cao tuổi bị sốt cao thường xuất hiện các tai biến như: rối loạn ý thức như lơ mơ, mê sảng, tiểu không tự chủ hay làm nặng thêm các bệnh tim mạch, huyết áp, đái tháo đường... và thời gian điều trị sẽ kéo dài và gây tốn kém thậm chí còn nguy hiểm đến tính mạng.
Ở mức độ nhẹ, sốt có thể gây nhức đầu, chóng mặt, tâm trí suy kém, nếu nặng thì sẽ bị rối loạn ý thức, mê sảng, co giật, tiểu không tự chủ... do cơ thể người cao tuổi khi có sự biến động về nhiệt độ thì sự điều nhiệt cũng thay đổi dù với những nguyên nhân thông thường như cảm nhiễm thật nhẹ cũng làm nhiệt độ tăng cao đột ngột có khi ảnh hưởng lên hệ thần kinh.
Ảnh hưởng đến hệ tiêu hóa, sốt sẽ làm cho ăn kém hơn, chán ăn, nôn, đau bụng, lưỡi đắng và đóng rêu trắng... Người già bị sốt cũng có tình trạng nước tiểu ít, nóng, nước tiểu đậm màu, có khi dẫn đến tình trạng tiểu khó, tình trạng thở nhanh, ho, khó thở...
Nếu ở hệ tim mạch, sốt làm tim đập nhanh, mạnh hơn có thể là huyết áp tăng cao hơn, tình trạng thiếu máu cục bộ cơ tim có thể nặng hơn, có thể có rối loạn nhịp tim,... biến chứng tim mạch rất hay xảy ra làm người cao tuổi bị sốt cao đột ngột.
Xử trí hạ sốt tại nhà như thế nào?
Sốt nhẹ là khi nhiệt độ từ 37,6oC đến 37,9oC, gọi là sốt vừa khi nhiệt độ từ 38oC đến 38,9oC, gọi là sốt cao khi nhiệt độ từ 39oC trở lên. Tuy nhiên, người cao tuổi xuất hiện những triệu chứng sốt nhẹ phải hạ nhiệt ngay để tránh những biến chứng nguy hiểm.
Khi đó, cần lau mát ngay lập tức. Đây là phương cách hạ sốt hữu hiệu, dễ thực hiện và ít tốn kém đồng thời mang lại hiệu quả rất tốt. Cách làm như sau: Dùng khăn tay nhúng vào chậu nước lạnh, vắt ráo nước đắp lên những vùng trán, hai bên hố nách... Vì khi chườm mát những vị trí đó thì việc hạ nhiệt sẽ nhanh có tác dụng hơn vì thế sốt sẽ mau hạ hơn, thỉnh thoảng cho bệnh nhân nằm nghiêng để lau vùng lưng. Lưu ý không chườm nước đá.
Hạn chế đắp khăn lên vùng ngực hoặc sau lưng vì khi đã hạ được sốt thì người bệnh sẽ dễ bị ho. Thường xuyên trở khăn, khi bệnh nhân có cảm giác dễ chịu hơn, trong người bớt bứt rứt thì nên kiểm tra lại nhiệt độ và mỗi lần kiểm tra nên lau khô nhẹ hố nách.
Khi người cao tuổi bị sốt cần được theo dõi, xử trí đúng.
Khoảng 10 - 15 phút mới cặp lại nhiệt độ để tránh nhầm lẫn tưởng là sốt đã hạ do khăn lạnh làm giảm nhiệt độ da tại chỗ nhưng nhiệt độ cơ thể vẫn còn cao. Không nên đắp chăn, không được mặc nhiều áo hoặc mặc áo ấm vì càng làm cho nhiệt độ trong người tăng cao. Việc hạ sốt chỉ mang tính chất tạm thời. Sau khi nhiệt độ đã hạ nên đưa bệnh nhân đến cơ sở y tế để được khám và được làm một số xét nghiệm cần thiết để tìm ra nguyên nhân của sốt và được điều trị tốt hơn.
Lời khuyên của bác sĩ
Sốt ở người cao tuổi cũng có thể là một biểu hiện bất thường cần được hết sức quan tâm chăm sóc. Chính vì vậy, ngoài việc theo dõi, xử trí để hạ sốt thì chế độ ăn uống đối với người cao tuổi lúc sốt là vô cùng quan trọng. Không nên ép bệnh nhân ăn nhiều, cho ăn những thức ăn lỏng, dễ tiêu, đồng thời nên cho uống nhiều nước, có thể là nước trái cây như: nước cam, nước chanh...
Sau khi nhiệt độ đã hạ, cần đưa người thân của mình đến cơ sở y tế gần nhà để được khám bệnh và được làm một số xét nghiệm cần thiết để tìm ra nguyên nhân của sốt và được điều trị tốt hơn.
Thạc sĩ, Bác sĩ Phan Hữu
Phòng đau nhức khớp lúc chuyển mùa
Thời tiết chuyển mùa là điều kiện thuận lợi cho các bệnh xương khớpxuất hiện, tái phát ở người cao tuổi (NCT). Vì vậy, NCT cần chú ý đề phòng để hạn chế ảnh hưởng đến sức khỏe.
Hầu hết NCT bị đau nhức khớp ở mức độ nhẹ hay nặng là do khớp bị viêm mà ngay từ đầu họ không để ý hoặc biết nhưng chủ quan, xem thường. Vì vậy, không biết để chăm sóc khớp và chữa trị khịp thời hậu quả dẫn đến là bị thoái hóa khớp. Trong giai đoạn khớp bị viêm, đau nhức khủng khiếp ở các khớp, kèm theo sưng nề, bầm, do đó đi lại, cử động hoặc mỗi khi đụng vào rất đau, đặc biệt là lúc thời tiết chuyển mùa (áp thấp nhiệt đới, gió màu đông bắc, mưa nhiều). Khi khớp đã bị thoái hóa thì mức độ đau nhức có thể âm ỉ, đôi khi đau tăng lên, nhất là mùa lạnh và về đêm càng đau nhức làm rối loạn giấc ngủ triền miên ảnh hưởng lớn đến sức khỏe.
Đau nhức khớp do đâu mà có?
Nguyên nhân đau nhức khớp vào mùa lạnh là do không khí lạnh thâm nhập vào cơ thể qua đường da bởi các lỗ chân lông, làm cho mạch máu tại các vùng da đó co lại, máu đến các khớp xương bị hạn chế hoặc rất ít nên thiếu máu nuôi dưỡng khớp, do đó các màng hoạt dịch và sụn khớp bị kích thích, gây nên đau nhức. Ngoài ra, đau nhức xương khớp có thể gặp ở một số NCT bị loãng xương hoặc gặp ở một số người thừa cân, béo phì do lực tác động thường xuyên lên các khớp xương, dây chằng, đặc biệt là các khớp gối, cổ chân, thêm vào đó mùa lạnh, ít hoặc ngại vận động càng dễ gây đau nhức xương khớp.
Biểu hiện của đau nhức khớp
Thông thường, khi vào mùa lạnh, NCT thường có cảm giác khó chịu, đau nhức, tê buốt ở các xương khớp, dai dẳng gây ám ảnh, “hành hạ” nhất là về đêm. Thời tiết lạnh thì hầu hết các khớp đã và đang bị bệnh đều đau nhức, tê, mỏi, khó chịu nhưng khớp gối, các khớp ngón tay - bàn tay, ngón chân - bàn chân thể hiện rõ nhất. Ở những NCT có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, thiếu quần áo ấm, thiếu chăn, đệm, nhà ở không kín gió, thậm chí thiếu ăn cho nên giấc ngủ chập chờn, rất khó ngủ, nếu bị đau nhức khớp, càng bị hành hạ nhiều hơn, khổ cực hơn. Do đau nhức xương khớp khiến cho NCT gặp không ít khó khăn trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày và luôn cảm thấy buồn phiền. Một số trường hợp đau dây thần kinh liên sườn do thoái hóa cột sống lưng làm nhầm tưởng là bệnh về tim mạch hoặc bệnh phổi nên càng hoang mang lo lắng. Bởi vì, đau dây thần kinh liên sườn là loại đau nhức khủng khiếp, tăng mạnh về đêm. Điều đáng nói là càng bị đau, nhức xương, khớp thì người bệnh càng sợ cử động sẽ dẫn đến các khớp trở nên tê cứng, khó cử động và càng ngày bệnh càng nặng thêm.
Cần làm gì?
Khi bị đau nhức xương khớp, nhất là vào mùa lạnh, NCT nên đi khám bệnh, tốt nhất là khám chuyên khoa khớp để xác định nguyên nhân và được chữa trị kịp thời, một mặt để hạn chế hoặc hết đau nhức xương khớp, mặt khác để đề phòng thoái hóa khớp. Người bệnh hoặc người nhà không nên tự chẩn đoán bệnh cho mình và không tự mua thuốc để điều trị, bởi vì, thuốc điều trị viêm, giảm đau, thoái hóa khớp có nhiều tác dụng phụ mà người dùng cần được bác sĩ kê đơn và tư vấn.
Hàng ngày nên vận động nhẹ nhàng các khớp
Để phòng bệnh, dù có bệnh lý khớp từ trước hay không, trong mùa lạnh, NCT cũng cần giữ ấm cơ thể mình, trong đó, đặc biệt lưu ý các khớp. Để làm tốt điều đó cần mặc đủ ấm, cổ quàng khăn ấm, tay đi găng, chân đi tất. Khi ra khỏi nhà cần mặc ấm hơn không để cảm lạnh. Khi có dấu hiệu đau, nhức khớp, tê, mỏi xảy ra, nhất là khi ngủ dậy, cố gắng làm nóng vùng xung quanh vị trí đau nhức bằng cách cạo gió, thoa bóp dầu. Mục đích là làm nóng vùng xunh quanh đó để cho các mạch máu giãn ra, máu đi đến được dễ dàng để nuôi các khớp.
Về chế độ dinh dưỡng, lý tưởng nhất là NCT nên có chế độ ăn, uống hợp lý để duy trì cân nặng ở mức độ vừa phải, tránh béo phì, thừa cân và đầy đủ các vi chất cần thiết. Hàng ngày nên vận động nhẹ nhàng các khớp gối, cổ chân, bàn tay, ngón tay, nhất là lúc sáng sớm vừa ngủ dậy, theo hướng dẫn của bác sĩ chuyên khoa khớp. Cần bổ sung canxi và vitamin D theo đơn của bác sĩ khám bệnh.
PGS.TS. BÙI KHẮC HẬU
Bí quyết sống thọ của 5 phụ nữ sinh từ thế kỷ 19
Susannah Mushatt Jones đến từ Mỹ, sinh ngày 6/7/1899 đã kỷ niệm lần thứ 115 ngày sinh của mình. Bà là một trong số ít phụ nữ trải qua nhiều sự kiện lớn trong lịch sử thế giới, chẳng hạn như hai cuộc thế chiến, chiến tranh lạnh, sự phát triển của máy bay, phát minh của truyền hình, và cuối cùng là thời đại của Internet. Những người sống trăm tuổi có thể hé lộ vài bí quyết để họ duy trì cuộc sống lâu như vậy.
Không có công thức kỳ diệu cho cuộc sống lâu dài nhưng những phụ nữ này bật mí một số nguyên tắc vàng cho tuổi thọ của mình. Theo họ, nếu bạn muốn khỏe mạnh cho đến tuổi già, điều quan trọng là được ngủ đủ, tranh thủ vận động, tập thể dục hàng ngày và ăn những thứ bạn thích thường xuyên. Hãy làm theo các luật lệ, không phải lo lắng quá nhiều về bất cứ điều gì để có sức khỏe tinh thần bền bỉ.
Cụ Misao Okawa, người phụ nữ già nhất thế giới, sinh ngày 5/3/1898, chụp ảnh bên cạnh chiếc bánh sinh nhật lần thứ 116 của mình ở Osaka, miền tây Nhật Bản.
Sinh ra trong một gia đình thương gia vải vóc ở Osaka vào năm 1898, cùng ngày với lãnh đạo Trung Quốc Chu Ân Lai, Okawa kết hôn vào năm 1919. Hai trong số ba người con của bà vẫn còn sống, cả hai đều thọ hơn 90 tuổi. Một trong những loại thực phẩm yêu thích nhất của bà là Sashimi (hải sản tươi sống, thái mỏng ăn kèm với mù tạc, loại thức ăn bổ dưỡng nổi tiếng ở Nhật Bản).
Được biết đến như người cao tuổi nhì thế giới và nhất châu Mỹ, bà Gertrude Weaver, sinh ra gần biên giới Texa, Mỹ ngày 4/7/1898, kết hôn năm 1915. Bà chia sẻ bí quyết trường thọ của mình là: "Tin tưởng vào Chúa, công việc chăm chỉ và yêu thương tất cả mọi người."
Emma Morano, sinh năm 1899 ở Italy, được coi là người cao tuổi nhất ở châu Âu. Kỷ niệm sinh nhật lần thứ 115 của bà là một bước quan trọng hướng tới xác lập kỷ lục mới về người sống lâu nhất từng có ở châu Âu. Ở Italy, cụ Emma được mọi người xung quanh và giới truyền thông chú ý, dành sự quan tâm đặc biệt.
Trong top 5 những cụ bà cao tuổi nhất thế giới, còn có Jeralean Talley đến từ Mỹ, cụ sinh ngày 23/5/1899.
Viêm phổi ở người cao tuổi
Viêm phổi là hiện tượng nhiễm khuẩn cấp tính ở phổi, do nhiều nguyên nhân gây nên. Ở nước ta, viêm phổi chiếm khoảng 12% các bệnh về phổi. Bệnh không chỉ phổ biến ở trẻ em mà còn hay gặp ở người cao tuổi. Đáng nói, viêm phổi ở người cao tuổi bệnh tiến triển nặng hơn so với người trẻ. Bệnh gia tăng khi trời trở lạnh.
Vì sao người cao tuổi dễ mắc viêm phổi?
Viêm phổi rất hay gặp ở người cao tuổi do sự lão hóa của hệ thống bảo vệ miễn dịch chung và bộ máy hô hấp dẫn đến suy giảm sức chống đỡ với thời tiết thay đổi đột ngột và tấn công của các loại vi khuẩn... Mặt khác, người cao tuổi hay mắc các bệnh mạn tính gây suy giảm miễn dịch như: các bệnh ác tính, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, đái tháo đường, hay do dùng các thuốc ức chế miễn dịch kéo dài cũng tạo điều kiện dễ dàng cho vi khuẩn xâm nhập vào phổi... Bệnh thường xảy ra về mùa đông hoặc khi tiếp xúc nhiều với khí lạnh.
Thông thường có 2 nguyên nhân gây viêm phổi ở người cao tuổi, có loại không do vi khuẩn và có loại do vi khuẩn.
- Bệnh phổi do vi khuẩn: Tuy vẫn còn các bệnh phổi do phế cầu nhưng hiện nay cần chú ý hơn đến tụ cầu và liên cầu. Ngoài ra còn có các vi khuẩn gram (-) E.coli... Trên những bệnh nhân dùng kháng sinh và corticoid dài ngày có thể gặp nấm phổi.
- Bệnh phổi không do vi khuẩn: Có thể gặp tuy không nhiều viêm phổi và viêm phế quản phổi do Ricketsia, bệnh virut do chim, bệnh phổi do Adenovirus, do các bệnh virut phát ban và nhất là bệnh phổi do mycoplasma pneumoniae. Nguy hiểm hơn cả là bệnh phổi do cúm.
Dấu hiệu nhận biết
Viêm phổi ở người cao tuổi có đặc điểm là âm thầm không rầm rộ. Người bệnh chỉ hơi tăng nhiệt độ, ho ít, nhẹ, khạc đờm không nhiều; thở nhanh, thở gấp hơn bình thường: Đau tức ngực nhất là khi thở sâu hay ho. Ngoài ra còn xuất hiện một số triệu chứng như đau đầu, ra nhiều mồ hôi, da tái nhợt, ăn không ngon miệng, mệt mỏi. Đặc biệt là ở người cao tuổi, khi bị viêm phổi thường xuất hiện tình trạng tinh thần suy giảm một cách bất thường có thể lú lẫn, rối loạn tâm thần…
Điểm khác biệt viêm phổi ở người cao tuổi là khi chụp X quang phổi, thấy nhiều hình ảnh mờ rải rác hoặc tập trung hơn ở vùng đáy phổi nhưng không có hình tam giác thường thấy trong viêm phổi ở lứa tuổi thanh niên và trung niên. Xét nghiệm máu thấy số lượng bạch cầu tăng không nhiều, hồng cầu có thể hơi tăng…
Cần làm gì?
Tùy nguyên nhân và tình trạng bệnh. Thể nhẹ có thể chữa trị theo dõi tại nhà. Các thể nặng phải được điều trị theo dõi tại viện.
Tùy thuộc vào tình trạng mà các bác sĩ sẽ có chỉ định cụ thể. Nếu viêm phổi nguyên nhân do các vi khuẩn cư trú ở răng miệng, họng mũi, loại phế cầu khuẩn, hemophilus influenzae... thì nguyên tắc là dùng kháng sinh sớm, phổ rộng.
Nếu người bệnh ho nhiều, các bác sĩ sẽ kê thêm dùng các thuốc giảm ho, khó thở dùng các thuốc chống khó thở và trợ tim mạch.
Nếu người bệnh được dùng thuốc và theo dõi tại nhà thì chăm sóc người bệnh rất quan trọng để giúp người cao tuổi khắc phục được sức khỏe nhanh chóng. Người bệnh cần uống nhiều nước giúp loãng đờm dễ khạc và hạ sốt (dung dịch oresol, nước hoa quả, nước rau...); truyền dịch nếu cần; giữ ấm cho bệnh nhân, nơi nằm của bệnh nhân cần thoáng, ấm, khô ráo, không có gió lùa và yên tĩnh; cần có chế độ nuôi dưỡng thích hợp tùy từng giai đoạn bệnh (giai đoạn đầu ăn lỏng hoặc nửa lỏng, sau đó ăn đặc dần).
Những biến chứng và nguy cơ
Do các triệu chứng của bệnh tiến triển rất âm thầm ở giai đoạn đầu, thường chỉ thấy khó chịu, gai rét, sốt nhẹ, ho nhẹ bởi vậy nhiều trường hợp chủ quan nên dẫn đến bệnh nặng dễ gây những biến chứng nguy hiểm như:
Tại phổi: Bệnh có thể lan rộng ra hai hoặc nhiều thùy phổi, bệnh nhân khó thở nhiều hơn, tím môi, mạch nhanh. Xẹp một thùy phổi: do cục đờm đặc quánh gây tắc phế quản. Áp xe phổi: sốt dai dẳng, khạc nhiều đờm có mủ. Tràn mủ màng phổi: Người bệnh sốt dai dẳng, chọc dò màng phổi có mủ.
Tại tim: Nếu người bệnh không được điều trị hoặc điều trị không đúng thì có thể dẫn đến viêm màng ngoài tim: triệu chứng đau vùng trước tim, nghe có tiếng cọ màng tim, thường là viêm màng tim có mủ...
Phòng bệnh viêm phổi ở người cao tuổi
Để phòng bệnh viêm phổi, không nên để người cao tuổi bị nhiễm lạnh, nhất là nhiễm lạnh đột ngột. Giữ cơ thể ấm về mùa đông, đặc biệt là giữ ấm cổ, ngực và hai bàn chân. Tránh bị nhiễm lạnh đột ngột, nhất là với người cao tuổi và trẻ em. Khi không cần thiết thì không nên đi ra ngoài trời lúc sáng sớm và đêm khuya, vì lúc đó thường lạnh. Cần vệ sinh sạch sẽ nơi ở, tốt nhất là sống trong môi trường trong sạch, ít khói bụi. Nhà ở phải thông thoáng, về mùa lạnh phải được che kín các khe hở, nên đóng cửa để che bụi. Nằm ngủ nên đắp chăn ấm, giường ngủ nên có đệm. Mùa đông không nên tắm nước lạnh, nơi tắm phải kín không có gió lùa.
Ngoài ra, người cao tuổi cần có chế độ sinh hoạt, ăn uống tốt nhằm duy trì và tăng cường sức đề kháng của cơ thể như: không hút thuốc lá, không uống rượu, nghỉ ngơi tập luyện hợp lý, ăn nhiều rau và hoa quả tươi..,
Đối với người cao tuổi thường mắc bệnh mạn tính như bệnh đường hô hấp, răng miệng... cần phải tích cực điều trị. Nếu có điều kiện nên tiêm phòng vắc-xin chống phế cầu, vắc-xin phòng cúm. Khi có những biểu hiện như sốt nhẹ, gai rét, mệt, ho thúng thắng... cần điều trị ngay vì nếu bệnh nặng rất khó chữa và nguy hiểm đến tính mạng.
Bác sĩ Hạnh Chung
6 mẹo giúp kéo dài tuổi thọ
Đứng thẳng mỗi tiếng một lần
Một nghiên cứu được đăng trên tạp chí của Hiệp hội Tim mạch Mỹ mới đây cho biết, so với người mỗi ngày ngồi dưới 2 tiếng trong khoảng thời gian sau công việc, những người ngồi hơn 4 tiếng/ngày, ngoài thời gian dành cho công việc có nguy cơ tử vong tăng cao tới 50%. Do đó, chuyên gia khuyến nghị, cứ 1 tiếng ngồi lỳ thì nên đứng thẳng, vận động đi lại 1 phút. Mỗi ngày, con người cần đi được khoảng 10.000 bước chân.
Ăn trứng gà
Trứng gà là thực phẩm cung cấp nhiều dinh dưỡng cho cơ thể. Mỗi quả trứng gà có thể cung cấp 13% lượng protein cần thiết trong một ngày mà chỉ khiến cơ thể tiếp nạp thêm 4% lượng calo. Ngoài ra, trứng còn giàu lutein – một chất chống oxy hóa, giúp ngăn ngừa thoái hóa điểm vàng ở mắt và tổn thương do tia tử ngoại. Vì có lượng vitamin B phong phú nên trứng gà còn giúp dự phòng chứng suy giảm trí nhớ và giảm nguy cơ bị viêm não.
Tiếp nạp crôm
Các nghiên cứu đã chỉ ra, một lượng nhỏ crôm sẽ tăng tính mẫn cảm của tế bào đối với insulin, có lợi cho việc duy trì mức độ đường huyết ổn định, giúp con người tránh được bệnh tiểu đường type 2.
Mỗi ngày có thể tiếp nạp từ 50-200 microgram crom từ các loại ngũ cốc, thịt, các loại hạt như quả hạnh nhân, mận khô, nho khô.
Đừng quên dùng chỉ nha khoa
Nếu không dùng chỉ nha khoa làm sạch triệt để kẽ răng, vi khuẩn sẽ khiến nướu bị nhiễm trùng, qua đó xâm nhập vào mạch máu, gây viêm động mạch. Nghiên cứu gần đây đã chỉ ra mối liên quan giữa bệnh răng miệng với nhiều bệnh khác, chẳng hạn như nhiễm trùng đường hô hấp và thoái hóa thần kinh.
Kiểm tra mạch đập
Trước khi dậy vào sáng sớm, dùng ngón trỏ và ngón giữa đặt vào phần cổ tay ở ngay dưới ngón cái và tự tính số lần mạch đập trong vòng 30 giây. Sau đó, lấy con số này nhân với 2 sẽ ra số mạch đập trong 1 phút. Các chuyên gia chỉ ra, so với phụ nữ có số mạch đập thông thường là 60 lần/phút, những phụ nữ có số mạch đập trên 90 lần/phút có nguy cơ tử vong do bệnh tim mạch tăng gấp 3 lần. Nếu nhịp tim rất cao, bạn nên tăng mức axit béo omega-3 trong các bữa ăn để phòng tránh bệnh tim.
Tự massage
Áp lực công việc khiến sức khỏe bị ảnh hưởng. Phương pháp giải tỏa căng thẳng nhanh nhất là tự massage huyệt thái dương. Động tác này sẽ giúp giảm tiết cortisol và adrenaline, giúp cơ thể tăng tiết endorphins và khiến con người cảm thấy dễ chịu.


Thứ Năm, tháng 3 26, 2015
doanh nhan