Thứ Hai, 28 tháng 9, 2015

Dùng thuốc trong bệnh Parkinson

Đến nay, người ta cũng chưa biết rõ căn nguyên của bệnh Parkinson, vì vậy thường dùng thuật ngữ hội chứng Parkinson và triệu chứng của một số bệnh khác biểu hiện của Parkinson. Bệnh thường là thứ phát của các rối loạn thần kinh, nam nhiều hơn nữ và cũng chưa thấy đó là bệnh di truyền, nhưng tỷ lệ mắc bệnh cao trong một gia đình thường xảy ra.

Tính tình biểu hiện rõ trầm cảm và rối loạn nhận thức khi bệnh tiến triển.Người ta đã biết một số lớn tế bào của hệ tiết dopamin bị phá hủy gây thiếu dopamin ở thể vân gây ra các biểu hiện lâm sàng của bệnh: run lúc nghỉ, cứng, vận động chậm và tư thế không ổn định. Thường quan sát thấy, đầu tiên ở 2 bàn tay, nhất là khi duỗi thẳng, mất đi sau cử động, gọi là run “vê bi”. Đôi khi run đầu tiên lại ở chân, có khi ở môi, lưỡi hoặc cổ. Lúc ngủ thì mất run. Cứng ở một bên hoặc một chi. Vận động chậm là triệu chứng muộn của bệnh, tiến tới mất vận động: ngồi xuống chậm, khó đứng dậy, đi chậm chạp, khó hoặc không vung vảy tay, khó viết nếu viết thì chữ nhỏ, khó nói hoặc nói nhỏ. Do giảm vận động cơ mặt nên mặt giống “mặt nạ”. Tư thế không ổn định như cúi khom và rất dễ bị ngã. Dáng đi được thấy đặc biệt khi đổi hướng.
Thuốc: Dùng thuốc gì và cách dùng thuốc là điều cần được lưu ý với người bệnh Parkinson.
Selegelin: Thường được dùng sớm ở giai đoạn đầu của bệnh, thuốc không có tác dụng bảo vệ tế bào thần kinh ở giai đoạn muộn. Là thuốc ức chế mono amino oxydase B, làm giảm sự phá hủy dopamin do làm chậm quá trình ôxy hóa của dopamin, giảm tạo ra các gốc tự do, bảo vệ tế bào thần kinh. Thuốc có thể phối hợp với levodopa, làm giảm triệu chứng bệnh và tiến triển bệnh.
Thuốc nên uống vào giữa bữa ăn sáng và trưa để hạn chế nôn. Không uống vào bữa tối vì gây kích thích mất ngủ.
Thuốc có thể gây nôn, ảo giác, lú lẫn, loạn động.
Levodopa: Thuốc điều trị các triệu chứng bệnh có hiệu quả. Qua men xúc tác, thuốc được thủy phân thành dopamin ngoại biên, không qua được hàng rào máu não, kích thích ở ngoài hàng rào máu não cho nên người ta đã kết hợp với carbidopa, chất này ức chế men decarboxylase ngoại biên làm cho phản ứng thủy phân levodopa thành dopamin ngoại biên mất đi.
Thuốc levodopa/carbidopa thường phóng thích nhanh, phải uống nhiều lần/ngày. Nay có thuốc phóng thích chậm như sinemet SR làm cho nồng độ thuốc trong huyết thanh ổn định hơn và giảm triệu chứng tốt hơn. Tuy nhiên sinemet lại có thời gian đạt nồng độ đỉnh trong huyết thanh kéo dài nên người ta khuyến cáo: sáng sớm dùng loại phóng thích nhanh rồi sau đó dùng loại SR vừa giải quyết được nồng độ đỉnh lại vừa cải thiện giấc ngủ.
Liều dùng: Trong giai đoạn sớm có thể dùng loại 25/100mg hoặc 50/200mg x 2 lần/ngày vào giữa bữa ăn sáng và bữa trưa. Có thể tăng liều dần cho tới khi có đáp ứng tốt (hoặc tăng lần uống) hoặc uống thêm loại tác dụng nhanh vào bữa ăn sáng.
Nhiều người bệnh, sau khoảng 5 năm dùng thuốc, sự đáp ứng không ổn định, biểu hiện các triệu chứng giảm ngắn và ít do thoái hóa dần tế bào thần kinh chuyển hóa, chỉ còn cách giải quyết là tăng số lần uống thuốc mà thôi.
Biểu hiện kém đáp ứng levodopa là loạn động. Triệu chứng này cần được các thầy thuốc chuyên khoa xem xét kỹ (do liều đỉnh, liều cuối hay hai pha) mà hướng dẫn cách dùng thuốc (thuốc gì, lần uống, liều dùng...) hoặc phối hợp với các thuốc vận động dopamin như bromocriptin, pergolid giúp đáp ứng levodopa tốt hơn.
Chống chỉ định: Kết hợp với IMAO, glôcôm góc đóng, giai đoạn cấp nhồi máu cơ tim, u hắc tố ác tính, kết hợp với amin cường giao cảm.
Những lưu ý, thận trọng khi dùng thuốc xin xem thêm bài báo Sự thận trọng cần thiết khi dùng levodopa của DS. Bùi Văn Uy, số 193 (2349) ngày 2/12/2008.
Một thuốc kết hợp khác cũng hay được dùng đó là modopaz, kết hợp levodopa/ benserazid. Benserazid cũng là thuốc ức chế decarboxylase ngoại biên như carbidopa.
Ngoài các thuốc trên người ta còn dùng các thuốc khác như thuốc kháng tiết cholin làm cân bằng giữa hệ tiết cholin và hệ tiết dopamin: benztropin, ethopropazin, procyclidin thường được dùng trong giai đoạn sớm, làm nổi bật, ít tác dụng với triệu chứng cứng, loạn đông amantadin cũng được dùng trong giai đoạn sớm, làm tăng tiết dopamin do kích thích thụ thể dopamin và kháng tiết cholin ngoại biên, tác dụng đặc biệt với triệu chứng cứng và loạn động.
Có tới phân nửa người bệnh có triệu chứng trầm cảm. Việc phối hợp với các thuốc chống trầm cảm 3 vòng, tác dụng có lợi và là làm giảm triệu chứng cứng và run.
Có người cho rằng Parkinson là do phản ứng ôxy hóa tạo ra các gốc tự do làm tổn thương tế bào thần kinh, vì vậy khuyên nên dùng phối hợp với vitamin E và C. Tuy nhiên cũng cần theo dõi thêm.
Hội chứng Parkinson thứ phát, còn gọi là mắc phải: thường do thuốc như thuốc điều trị tâm thần, thuốc trị rối loạn nhu động ruột (metoclopzamind); do độc tố như mangan, methanol, oxydcarbon; sau nhiễm khuẩn như viêm não Nhật Bản B; bệnh Wilson, Huntington và một số bệnh não do chấn thương, úng thủy...
Cách dùng thuốc với bệnh Parkinson rất quan trọng: thuốc gì, dùng trước, dùng sau, dùng phối hợp, uống lúc nào, lần dùng, khoảng cách, liều dùng, tác dụng phụ với từng người, các bệnh khác... cần được tư vấn kỹ lưỡng của các thầy thuốc chuyên khoa để duy trì và cải thiện chức năng, cuộc sống của người bệnh.
DS. Phạm Thiệp


Phòng ngừa tai biến mạch máu não

Não là một trong những cơ quan nhận máu nhiều của hệ tuần hoàn và các tế bào thần kinh là những tế bào nhạy cảm với tình trạng thiếu oxy nhất. Chỉ cần thiếu oxy 5 phút là các tế bào não sẽ chết và không có khả năng hồi phục.
Các thể bệnh tai biến mạch máu não hay gặp nhất còn gọi là đột quỵ bao gồm: co thắt mạch máu não, thiếu máu não thoáng qua, nhồi máu não, vỡ mạch máu não… Và nặng nhất là xuất huyết ồ ạt gây ngập não thất làm chobệnh nhân tử vong trong vòng 1 - 2 giờ đồng hồ.
Các dấu hiệu dễ nhận thấy nhất là bệnh nhân bị đau đầu dữ dội, chóng mặt, tay chân yếu hoặc liệt và đi vào hôn mê. Khả năng phục hồi của bệnh nhân phụ thuộc nhiều vào thể tai biến. Ở những thể nặng, bệnh nhân hôn mê sâu tỉ lệ tử vong lên đến trên 50%.
Việc đề phòng quan trọng nhất là phải phát hiện sớm bệnh cao huyết áp và tình trạng xơ vữa động mạch, để điều trị tốt. Cần phải thận trọng với những bệnh nhân có yếu tố nguy cơ cao như: tuổi trên 50, béo phì, hút thuốc lá, đái tháo đường…
Dân gian thường nói câu: viêm họng là tìm đến khớp, khớp đớp tim và tim thì tìm gan để nói về mối tương quan của bệnh thấp tim. Bệnh do có nguyên nhân do tình trạng nhiễm vi trùng Streptococus beta Hemolytique.
Phòng ngừa tai biến mạch máu não
PGS.TS. NGUYỄN HOÀI NAM


Thứ Năm, 24 tháng 9, 2015

Nghễnh ngãng: Dấu hiệu giảm thính lực ở người cao tuổi


Nghễnh ngãng là biểu hiện thường gặp ở người cao tuổi do suy giảm thính lực. Tuy nhiên, người mắc phải thường không ý thức được đầy đủ về tầm quan trọng của bệnh này bởi họ tưởng rằng, đây là điều bình thường ở tuổi già.
Nghễnh ngãng do giảm thính lực ở người cao tuổi
Theo Tổ chức Y tế Thế giới, có khoảng 40% người trên 65 tuổi bị giảm thính lực do bộ phận dẫn truyền âm thanh thoái hóa hay bộ phận thần kinh dẫn tín hiệu nghe lên não bị ảnh hưởng, gây ra tình trạng nghễnh ngãng hay nặng tai. Khi thính lực giảm sút, người cao tuổi sẽ gặp khó khăn trong giao tiếp, ảnh hưởng tới chất lượng cuộc sống. Trên thực tế, khi các cụ già bị nặng tai, người thân xem đó là chuyện bình thường của tuổi già nên họ thường không đưa các cụ đi chữa bệnh. Điều này gián tiếp làm tăng thêm sự mặc cảm vốn đã ngày càng trầm trọng ở các cụ.
Nghễnh ngãng: Dấu hiệu giảm thính lực ở người cao tuổi
Người cao tuổi nên đi khám tai khi có biểu hiện nghe kém
Người nghễnh ngãng thường phàn nàn rằng họ rất khó nghe trong môi trường ồn ào hay khi nói chuyện với nhiều người một lúc dẫn đến việc giao tiếp xã hội bị cản trở. Người có cơ quan thính giác bình thường có thể cảm nhận được tiếng nói thầm có cường độ dưới 20dB, nhưng đối với người nghễnh ngãng chỉ nghe được âm thanh từ 40-60dB. Những người điếc nặng chỉ nghe được tiếng hét to, có nghĩa là cường độ âm thanh phải đạt 60-80dB.
Tình trạng nghễnh ngãng do suy giảm thính lực ở người cao tuổi bị tác động bởi rất nhiều yếu tố như sự xơ cứng của các mạch máu trong ốc tai gây rối loạn sinh hóa nội dịch tai trong và làm ảnh hưởng tới hoạt động giác quan của ốc tai. Các yếu tố di truyền thúc đẩy nhanh quá trình lão hoá của cơ thể, sự giảm sút của các hormon tuyến thượng thận và sinh dục khiến thính lực càng kém đi. Ngoài ra, một số yếu tố khác cũng làm trầm trọng tình trạng nghễnh ngãng ở người cao tuổi, dẫn đến điếc nhanh hơn như: ô nhiễm tiếng ồn, sử dụng chất kích thích, các thuốc gây nhiễm độc tai…
Nghễnh ngãng: Dấu hiệu giảm thính lực ở người cao tuổi
Nghễnh ngãng ở người cao tuổi gây nhiều khó khăn trong cuộc sống

Điển hình cho chứng nghễnh ngãng ở người cao tuổi là trường hợp của ông Hoàng Văn P. (69 tuổi, Phù Cừ, Hưng Yên). Chứng nghễnh ngãng bắt đầu xuất hiện trước đó khoảng 2 năm, ông nghĩ mình có tuổi, suy giảm thính lực cũng là chuyện bình thường nên không đi khám bệnh. Nhưng tình trạng ngày càng trở nên trầm trọng hơn, gây nhiều phiền phức trong sinh hoạt hàng ngày. Ông P. chia sẻ: “Lúc nào tôi cũng nghe thấy tiếng ù ù như có tiếng sôi trong tai, nói chuyện với ai đều phải hỏi lại dù họ đã nói to. Khi xem tivi, tôi phải chỉnh âm lượng gần hết cỡ thì mới nghe thấy tiếng, gây khó chịu cho mọi người xung quanh vì âm thanh quá to. Đáng lo hơn là, mỗi khi đi đường, tôi chỉ nghe được tiếng còi to thôi, còn tiếng bé thì hoàn toàn không nghe được nên cũng sợ gặp nguy hiểm trên đường”.

Phòng bệnh viêm đại tràng xích-ma

VIÊM ĐẠI TRÀNG XÍCH-MA (SIGMA) LÀ TÌNH TRẠNG BỊ VIÊM NHIỄM, GẶP Ở MỌI LỨA TUỔI NHƯNG NGƯỜI CÓ TUỔI CHIẾM TỈ LỆ KHÁ CAO. VIÊM ĐẠI TRÀNG XÍCH-MA GÂY KHÔNG ÍT PHIỀN MUỘN CHO NGƯỜI BỆNH, ẢNH HƯỞNG ĐẾN SINH HOẠT VÀ TUỔI THỌ CỦA NGƯỜI CAO TUỔI.

Về mặt giải phẫu, đại tràng được chia thành 4 đoạn (đại tràng lên, đại tràngngang, đại tràng xuống và đại tràng xích-ma (có dạng hình chữ sigma ). Đại tràng xích-ma là một đoạn ngắn của đại tràng xuống nối với trực tràng. Có rất nhiều nguyên nhân gây viêm đại tràng xích-ma và những nguyên nhân gây viêm đại tràng, trực tràng đều có thể gây viêm đại tràng xích ma. Ngày nay, bệnh viêm đại tràng mạn tính là một trong những bệnh không chỉ phổ biến ở Việt Nam mà còn ở trên toàn thế giới.
Một số nguyên nhân
Căn nguyên viêm đại tràng rất đa dạng với rất nhiều nguyên nhân khác nhau, hay gặp nhất là viêm đại tràng do vi sinh vật, trong đó lỵ amíp chiếm tỉ lệ khá cao, nhất là ở những địa phương vệ sinh môi trường chưa tốt, ở những người ăn rau sống, ăn thực phẩm chưa nấu chín hoặc còn sống (tiết canh, nem chạo…). Với vi khuẩn, một số loại thường gây viêm đại tràng như vi khuẩn thương hàn (Salmonella), vi khuẩn lỵ (Sghigella), Campylobacter, E. coli, Clostridium difficile (trực khuẩn kỵ khí). Viêm đại tràng có thể do vi khuẩn lao (Mycobacterium). Với virút, loại thường gặp nhất gây viêm đại tràng là Cytomegalovirus. Ngoài ra, viêm đại tràng xích-ma còn có thể do tác động của bức xạ trong điều trị một số bệnh ung thư, bệnh Cohn (dễ bị chẩn đoán nhầm với viêm ruột thừa). Nhiều trường hợp không tìm thấy căn nguyên gây bệnh, đó được gọi là viêm đại tràng xích-ma vô căn. Nguyên nhân này găp khá phổ biến cho nên việc điều trị nguyên nhân gặp không ít khó khăn.
Triệu chứng
Các triệu chứng thường gặp khi viêm đại tràng như: tiêu chảy có máu, đau bụng và có cảm giác buốt, mót đi ngoài. Đau bụng là triệu chứng lúc nào cũng gặp ở người bị viêm đại tràng xích-ma, thường là đau bụng bụng dưới và thấy nhiều ở hố chậu trái hay hố chậu phải. Với triệu chứng này rất dễ nhầm với viêm ruột thừa. Người bệnh thường có rối loạn tiêu hóa (đầy bụng, chướng bụng, ăn không tiêu, chán ăn), phân không thành khuôn, đôi khi có nhày lẫn máu, nhất là viêm đại tràng do ký sinh trùng amíp. Thỉnh thoảng táo bón và càng bị táo bón càng đau bụng.
Một số trường hợp, người bệnh bị tiêu chảy do hiện tượng viêm phù nề niêm mạc đại tràng làm cản trở sự hấp thu nước từ thức ăn.
Nguyên tắc điều trị
Khi người cao tuổi bị đau bụng, rối loạn tiêu hóa cần được khám bệnh đầy đủ, khám càng sớm càng tốt, và tốt nhất là khám chuyên khoa tiêu hóa để được xác định và điều trị tránh để bệnh thành mạn tính, khó chữa. Người bệnh không nên tự chẩn đoán bệnh và không nên tự mua thuốc để điều trị, làm như vậy, bệnh không những không khỏi, đôi khi còn nặng thêm, nguy hiểm thêm. Khi đã được xác định viêm đại tràng, người cao tuổi cần kiên trì điều trị, tái khám đúng lịch hẹn của bác sĩ, không nên bỏ hoặc quên không dùng thuốc đều đặn theo lời dặn của bác sĩ.
Phòng bệnh viêm đại tràng xích-ma
Nguyên tắc dự phòng
Người cao tuổi cần có chế độ dinh dưỡng và sinh hoạt hợp lý. Không ăn rau sống, không uông nước chưa đun sôi và không ăn các loại thực phẩm nấu chưa chín hoặc không đun nấu (tiết canh). Trong các bữa ăn chính cần tăng cường ăn rau, canh và nên ăn thêm các loại trái cây như: cam, bưởi, xoài, đu đủ chín và uống đủ lượng nước cần thiết (khoảng 1, 5 - 2,0 lít). Bên cạnh đó, cần vận động cơ thể một cách đều đặn, thường xuyên. Mỗi một người nên chọn cho mình một cách vận động thích hợp nhất tùy theo sức khỏe và điều kiện.
Với người cao tuổi bị viêm đại tràng mạn tính thường mệt mỏi, chán ăn, không muốn ăn, thậm chí bỏ bữa hoặc kiêng khem quá mức dẫn đến nguy cơ suy dinh dưỡng. Vì vậy, người nhà cần động viên, giúp đỡ, đặc biệt đối với người cao tuổi sức yếu, đi lại khó khăn.
Hay gặp nhất là viêm đại tràng do vi sinh vật, trong đó lị amíp chiếm tỉ lệ khá cao.

Thứ Sáu, 31 tháng 7, 2015

Chóng mặt, bệnh hay tấn công người cao tuổi



Chóng mặt là một triệu chứng chủ quan của người bệnh. Người bệnh cảm thấy mọi vật quanh mình quay tít hoặc bản thân bị quay như đứng giữa một cơn lốc, có khi cảm thấy bồng bềnh như đi thuyền trên sóng hoặc bước hẫng, đi lại không vững hoặc đi như bị kéo lệch về một phía. Có lúc người bệnh thấy nhà cửa đu đưa, giường chao đảo, mặt đất dập dềnh. Trong một số trường hợp, chóng mặt kèm theo buồn nôn hoặc nôn, vã mồ hôi, tim đập nhanh, hồi hộp, sợ hãi. Xử trí thế nào để giảm rủi ro do cơn chóng mặt?
Vì sao bị chóng mặt?
Cơn chóng mặt xảy ra đột ngột nhưng chấm dứt cũng rất nhanh, chỉ trong mấy giây đồng hồ để rồi xuất hiện trở lại: chóng mặt có thể gặp từ 20-80 tuổi, hay gặp nhất ở quãng 50-60 tuổi. Chóng mặt có khi gây ảnh hưởng lớn đến sinh hoạt của người bệnh.
Chóng mặt, bệnh hay tấn công người cao tuổi
Khi bị chóng mặt, người bệnh cảm thấy mọi vật quanh mình quay tít hoặc cảm giác bồng bềnh  chao đảo như  đi trên sóng.
Nguyên nhân của chóng mặt rất phức tạp, có khi cần sự phối hợp khám của nhiều chuyên khoa như tai - mũi - họng, nội khoa, thần kinh, mắt, Xquang và làm một số xét nghiệm khác. Tuy vậy, thường cũng chỉ tìm được nguyên nhân ở 30% các trường hợp.
Các nguyên nhân chính gây ra chóng mặt là: Chấn thương (va chạm, ngã, đụng đập, tai nạn giao thông...) gây ra chấn động tai trong; Nhiễm độc (rượu, thán khí, oxyt cacbon...); Dùng một số thuốc có ảnh hưởng đến tai trong (tiền đình); Viêm tai giữa, viêm xương chũm, viêm màng não; Nhiễm virut; Rối loạn điều hành tuần hoàn trong tai, huyết áp dao động; Do ống tai ngoài bị bít (vật lạ, ráy tai...); Do có tổn thương trong não.
Chứng bệnh hay gặp ở người cao tuổi
Ở người cao tuổi, hay gặp nhất loại chóng mặt kịch phát theo tư thế. Loại này đột ngột, trước đó không có bệnh gì rõ rệt, thường vào buổi sáng sớm hoặc buổi tối lúc đi ngủ. Khi đang nằm, đầu nghiêng trên gối quay sang phải hoặc trái, hay quay cả người hoặc đang ngồi mà nghiêng đột ngột sang một bên, người bệnh thấy chóng mặt dữ dội. Thường cơn chóng mặt xuất hiện theo một tư thế nhất định hoặc theo một bên nhất định (bên phải hoặc bên trái).
Phần lớn người bệnh tự mình xác định được tư thế nào gây cơn chóng mặt, do đó tự tìm được cách tránh tư thế đó hoặc làm tư thế đó một cách từ từ, nhẹ nhàng. Xuất hiện bất ngờ, có cơn rất mạnh trong vài ba ngày, chóng mặt kịch phát theo tư thế thưa dần trong thời gian từ vài tuần đến vài tháng; các cơn nhẹ dần, ngắn dần, rồi hết hẳn. Trong các năm sau, cơn có thể phát lại song nhẹ hơn. Tuy vậy, ở người cao tuổi vẫn có 10% người bệnh bị cơn tái đi tái lại trong nhiều năm, bệnh đã trở thành mạn tính.
Đối với người bệnh đang lên cơn chóng mặt, thầy thuốc chỉ nên khám tối thiểu, tránh làm tăng cơn chóng mặt và tôn trọng tư thế nằm mà người bệnh đã chọn, tránh di chuyển không cần thiết.
Nếu người bệnh đồng thời bị chóng mặt, ù tai, điếc có thể nghĩ đến một hội chứng tai trong, gọi là hội chứng Mơ-ni-e (Menière) do sũng nước ở tai trong. Tuy rất khó chịu, hội chứng này có xu hướng tự khỏi; người bệnh có thể hết chóng mặt song vẫn còn ù tai kéo dài và nghe kém.

Các chứng chóng mặt xuất hiện từ từ, xảy ra ở bất kỳ tư thế nào, không dữ dội song kéo dài trong nhiều ngày, có kèm theo rung giật nhãn cầu (động mắt), thường biểu hiện một tổn thương trong não, cần phải được các chuyên khoa phối hợp khám kỹ mới xác định được nguyên nhân và đề ra cách chữa hợp lý.


 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | Laundry Detergent Coupons